Showing posts with label Tư Duy. Show all posts
Showing posts with label Tư Duy. Show all posts

Sunday, September 28, 2014

Bằng Chứng Cụ Thể của Tính Bất Nhân Vô Đạo của Chủ Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc

Khi Tôi viết nhận định về tính man rợ bất nhân phi lý của “tinh thần quốc gia dân tộc” trong bài viết “Tổ Quốc, Tín Ngưỡng, Văn Hóa, và những Tội Ác MAN RỢ BẠO NGƯỢC.
“Ngoài yếu tố này, dù Justin không nhắc đến nhiều, theo Tôi, yếu tố độc tôn tự mãn (exceptionalism) của Mỹ sau vụ 911. Khiến gần như cả xã hội chính qui Mỹ mặc nhiên "dể dãi và tha thứ" trong tinh thần "quốc gia dân tộc", mà hầu hết nhân loại này nếu chưa trưởng thành vượt qua để có nhân bản, luôn luôn vướng phải. Như ngừoi Tầu, dù chống chế độ Cộng Sản, vẫn tự hào về thành quả chiếm đóng giết ngừoi của "dân tộc" họ  ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, hay tại Việt Nam.... Và người Việt Nam, một mặt nhồi nhét lẫn nhau về những bài học “nước mắt xương máu” lịch sử “tàn bạo” của Trung Quốc, của thực dân Tây phương đối với dân tộc “hiếu hòa văn hóa nhân bản” Việt Nam ta- mặt khác lại cũng tiếp tục nhồi nhét niềm tự hào trong giáo dục, văn học  về cuộc cái gọi là "cuộc Nam Tiến Mở Mang Bờ Cõi" của "tổ tiên" với những hành động và chính sách diệt chủng- và ngay hôm nay, khi nhân loại đã vượt lên chủ nghĩa dân tộc, lên án tất cả các cuộc diệt chủng, thì người Việt Nam, họ vẫn thì thầm với nhau (không dám to mồm công khai, vì biết sẽ bị dư luận nhân bản thế giới lên án) về "tài ba" của các chiến sĩ ta (Ngụy và Phỉ)  lấn chiếm và khống trị  bọn "mọi" Miên Lào, đàn áp đồng hóa người Khmer Krom.
Não trạng "quyền lợi quốc gia" - "tự hào dân tộc" v.v Nó đưa đến kỳ thị chủng tộc và chính đáng hóa cho hành động man rợ, từ đó nó mặc nhiên tập thể hóa luôn hành động này, nghĩa là cả một xã hội khuyến khích, đồng lõa với tội ác bằng sự bao che, ngụy biện và khỏa lấp cho nhau nhân danh bảo vệ "danh dự tổ quốc dân tộc". Ở một mức cùng cực của man rợ, những đồi bại hoang thú này còn được tha thứ ban phép lành bởi ý niệm tôn giáo tự tôn nữa. Cấp độ tội ác càng bạo ngược hơn khi có niềm tin tôn giáo làm nền. Kẻ sát nhân sẽ tự thánh hóa mình và tàn sát những đối phương đã bị niềm tin và thông tin tuyên truyền ác hóa xuống hàng ngạ quỉ, như người Thiên Chúa giáo nhìn ngừoi Hồi Giáo như những tên ác quỉ (Satan) và ngược lại những ngưởi Hồi giáo nhìn ngừoi Thiên chúa giáo cũng cùng hình ảnh mức độ như vậy. “
Và đã có những "hậm hực than phiền" về nhận định của Tôi từ những người Viêt Nam. Lạ lùng nhất là từ những công dân Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Áo, Thụy Điển, Hà Lan v.v gốc Việt!!!
Dĩ nhiên, khi tuyên bố, lên án, hay ngay cả chỉ là nhận định, chúng ta cũng cần những bằng cớ, dẫn chứng cụ thể.  Trong trường hợp này, Tôi chẳng cần bằng chứng lịch sử gì xa xôi, vì NGAY CHÍNH THÁI ĐỘ PHẢN ĐỐI HẬM HỰC của những người Việt Nam, nhất là những công dân Tây phương gốc Việt ở thế kỷ thứ 21 này, đã minh chứng điển hình và hùng hồn minh xác nhận định của Tôi và của tất cả những học giả sử học và nhân chủng học đã dầy công nghiên cúu tổng hợp và kết luận về tính bất nhân man rợ của chủ nghĩa quốc gia dân tộc và tính trơ trẽn ngụy tín của những con người theo đuổi tôn thờ sử dụng  nó.
Khi loài người chưa bước vào kỷ nguyên ánh sáng và nhân bản với những ý niệm về giá trị tự do chủ quyền con người từ hậu bán thế kỷ thứ 20 đến nay, thì chủ nghĩa Quốc Gia Dân Tộc là một “lý tưởng” ưu thắng khắp mọi nơi, từ Đông qua Tây. Những tên cầm chính đẫm máu con người luôn là những “anh hùng dân tộc”; những tiến chiếm cướp đoạt luôn là những “công lao vĩ đại”, vì “lịch sử quốc gia” là những chữ nghĩa phù thủy hư cấu “thần tích giống nòi”, được nhân bội bởi những “chiến công” giết ngừoi, cưỡng bức thống hợp, cướp đất diệt chủng.
Những “thần tích giống nòi” được nhồi nhét khắc sâu vào trong não trạng của con người hàng tram năm, ngàn năm, từ trong bào thai đến giáo dục gia đình xã hội, khiến người ta ở những thời điểm trước không hề có ý niệm “nhân loại”. Bất cứ ai khác “giống nòi” đều “man di” (Babaric)  “ngoại súc” (Alien). Nhiều khi rất trớ trêu như trường hợp nhóm Á Châu như Tầu, Việt, Hàn , Nhật khi mới tiếp súc với Tây phương vẫn cho họ là “bạch quỉ man di”, để rồi tự nhốt chính mình trong tháp ngà ngu dốt lạc hậu, và hệ quả sau này là không chỉ bị chiếm đóng nô lệ, mà sau khi hết bị chiếm đóng nô lệ, lại tự nguyện miệt mài học hỏi bắt chước Tây phương mà vẫn chưa theo kịp đến nơi đến chốn… Đơn giản bởi vì tất cả đã phải nhìn nhận một sự thật, Tây phương họ thật sự văn minh tiến bộ hơn Á Châu, không hoàn toàn, nhưng xa lắm về rất nhiều mặt.
Nhưng trước khi đi xa và sâu hơn, hãy giải quyết cái hậm hực ngu dốt bán khai của “ngừoi Việt tinh túy”  hôm nay đã.
Những ai, ở tuổi đời từ 60-70 trở lên hẳn còn nhớ sự trâng tráo của Tây phương, đặc biệt là khối Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan trong thời điểm thịnh hành của chủ nghĩa thực dân của họ ở các xứ Nam Mỹ, Châu Phi và Á Châu- nhất là trong sự kiện Đệ Nhị Thế Chiến với sức mạnh của Quốc Xã đã chiếm đóng hầu hết các xứ đế quốc thực dân này.
Họ dài mỏ cao giọng lên án chủ nghĩa Phát xít man rợ. Nào là hủy diệt nhân loại, chà đạp tự do, độc lập, và nhân phẩm con người v.v  Nhưng ngay sau khi họ vừa thoát được ách thống trị của Phát Xít, họ nhẫn tâm trâng tráo tiếp tục đàn áp man rợ những xứ sở bị họ thực dân nhưng vẫn cùng đổ xương máu chung với họ chống Phát Xít, như Viêt Nam, An Gê Ri.
Tôi nhớ đã viết lại đâu đó trong bài viết cách đây đã lâu, một câu chuyện xảy ra cho chính Tôi khi ở đại học UNSW, Úc vào năm 1994. Lúc đó nhân tuần lễ kỷ niệm ngày D-Day, (4-6-1944) vị giáo sư chủ nhiệm chính của cả khóa học nói về ngày kỷ niệm “quân đội đồng minh ”chiến đấu hy sinh vì tự do của thế giới”. Tôi đã giơ tay phản đối, Tôi nói nhận định như vậy là chủ quan cưỡng lý. Tôi và nhiều người của nhiều xứ sở khác, chẳng có ơn nghĩa gì với những người lính Tây phương đó, chính đất nước Việt Nam và người Việt nam đã phải chiến đấu chống lực lượng “đồng minh”, trước và sau 1945, để có độc lập, chứ không phải chiến đấu chống Đức quốc xã để dành độc lập. Vị giáo sư, và cả lớp nghiên cúu sinh, đều vui vẻ đồng thuận rằng “hy sinh vì tự do cho thế giới” là không đúng sự thật. Ông ta còn cười xòa nói với cả lớp “We know, we are very Eurocentric” (Chúng tôi biết chúng tôi rất Âu châu tự thị). Phải công nhận họ rất trí thức: vui vẻ thoái mái thừa nhận cái sai của họ khi được vạch ra đúng đắn, rõ ràng và hợp lý.
Và ngày hôm nay, giữa tình hình biên giới đất biển căng thẳng giữa Viêt Nam và Trung Quốc, hầu như tất cả các nhóm gốc Việt và Việt Nam trong nước đều tận dụng “lịch sử chiếm đóng đô hộ” trải dài hơn ngàn năm của Trung Quốc đối với Việt Nam để  lên án gây lòng căm thù qua “chủ nghĩa quốc gia dân tộc”.
Ấy nhưng khi đề cập đến sự kiện bá quyền bành trướng và diệt chủng của Viêt Nam trong lịch sử đối với Chân Lạp Chiêm Thành trong cái gọi là “cuộc Nam Tiến”, và thái độ chính sách hôm nay với Miên Lào và với ngay công dân Việt gốc Khmer Krom, Chàm .. thì họ viện dẫn rằng đó là “hoàn cảnh lịch sử” theo nhu cầu “tương tranh  sinh tồn” không tránh được!!!
Giả thiết là lập luận này “đúng”. Vậy người Trung Quốc "Hán tộc", họ cũng viện dẫn như vậy, thì lấy cái gì để lên án họ? Mà cho rằng “chính trị thế giới  là mạnh được yếu thua”, và “thủ đoạn ai cao người ấy thắng” thì lại càng chết! Giả sử “Dư luận thế giới” cũng đồng thuận lập luận như mình, khi mình ra rả phân bua phải trái kêu cúu với họ, và họ chỉ thẳng vào mặt Viêt Nam để nói thẳng rằng “chính trị thế giới  là mạnh được yếu thua”, và “thủ đoạn ai cao người ấy thắng”!!! (Mẹ tiên sư, đến Chúa, Phật cũng phải ngao ngán não trạng quốc gia dân tộc này)
Nhưng may mắn rằng kỷ nguyên man rợ trắng trợn ấy cũng đang đi qua, và nhân loại cũng đang tận sức vận đông để  đẩy những lập luận man rợ phi nhân này lùi hẳn vào quá khứ và tan biến trong hố rác của lịch sử nhân loại. Ít nhất ở mặt thể hiện chính qui bang giao và giáo dục phổ thông, người ta KHÔNG CÒN CHẤP NHẬN LÝ LẼ này nữa.
Trên bình diện quốc tế, từ sau đệ nhị thế chiến, nhận thức nhân bản đã đổi thay, với sự ra đời không chỉ của Tuyên Ngôn Nhân Quyền, mà ngay cả một Hội Nghị về Công Đạo và Công Pháp về tội Diệt Chủng cũng được thành lập để ngăn chặn và trừng phạt những quan niệm hành xử đẫm máu man rợ, mà trước đó từng được vinh danh là “anh hùng dân tộc” trong thời kỷ não trạng “quốc gia dân tộc”.
Hội Nghị Qui Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt  Tội Diệt Chủng (The Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide) được đồng thuận tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 9 tháng 12 năm 1948 qua Nghị Quyết LHQ 260. Qui Ước có hiệu lực từ ngày 12 tháng Giêng năm 1951. Qui định pháp chế cho tội phạm này, và các thành viên quốc gia được nhắc nhở phải ngăn chặn cũng như trừng phạt những hành động diệt chủng trong chiến tranh cũng như thời bình.
Những hành động được qui là diệt chủng là những hành động có ý đồ tiêu diệt một phần hay hoàn toàn một quốc gia, một nhóm chủng tộc, thiểu số, hay tôn giáo; bao gồm các hành vi như giết hại các thành viên của họ- cố tình tạo điều kiện sinh sống khó khăn trong tính toán để tiêu diệt từng phần hay toàn bộ một nhóm người; hay áp đặt những biện pháp chủ ý ngăn chặn sinh sản trong nhóm người đó; hoặc cưỡng ép bắt những trẻ em của họ gia nhập vào những nhóm người khác 
(any of the following acts committed with intent to destroy, in whole or in part, a national, ethnical, racial or religious group, as such:
(a) Killing members of the group;
(b) Causing serious bodily or mental harm to members of the group;
(c) Deliberately inflicting on the group conditions of life calculated to bring about its physical destruction in whole or in part;
(d) Imposing measures intended to prevent births within the group;
(e) Forcibly transferring children of the group to another group.
Từ đó cho đến nay, hàng loạt các công trình nghiên cúu được tiến hành để đúc kết tất cả các tội phạm thực dân diệt chủng để hình thành một kho tài liệu làm bài học cho những thế hệ sau của nhân loại này.
Có rất nhiều công trình nghiên cúu. Bạn đọc chỉ cần vào Google, gõ hàng chữ “Genocides in Histroy” sẽ ra hàng lố. Ở đây Tôi chỉ xin nêu ra một đại lược:
Quan điểm chung của các nghiên cúu này là chia những cuộc diệt chủng ra làm hai thời kỳ: Trước và sau năm 1490s. Để xác định nguyên nhân và động cơ của các cuộc tàn sát diệt chủng trong tiến trình lịch sử của loài người, hầu có được giải pháp tháo gỡ tính man rợ này. Và trước tiên là đặt hành động “vì dân tộc tổ quốc này” vào vòng TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LOẠI. Như việc đang gây tranh luận thế giới là sự kiện cận sử người Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát ngừoi Armenians, và người Do Thái đang tàn sát người Palestinians.
Trước  1490, các công trình nghiên cúu đúc kết tài liệu dữ kiện từ các diễn tiến lịch sử tương quan giữa các xứ sở “dân tộc”.
Giai đoạn sau 1490 tương đối đầy đủ sử liệu hơn được nghiên cúu ghi lại khá rõ”
    Từ năm 1490 đến 1914
        Vùng Mỹ Châu (Americas) thủ phạm Mỹ (United States of America), Argentinne. Úc (Australia), France, Philippines -German South-West Africa- Ireland – Cuộc chiến Tam Quốc Anh giáo giết Công Giáo (War of the Three Kingdoms)- Nạn Đói Ái Nhĩ Lan- (Great Irish Famine) Tội Ác Đế Quốc Nga (Russian Empire)- Tội Ác Nhà Thanh (Qing empire)
Từ năm 1915 đến 1950
        Tội ác đến quốc Hồi Giáo Thổ (Ottoman Empire/Turkey)- Vụ Armenian- Assyrian- Hy Lạp Greek- Người thiểu số Dersim Kurds.
        Tội ác đế quốc -Soviet Union- Giết người Cossack (Decossackisation)-Vụ Holodomor- Vụ Thanh Trừng đẫm máu Stalin (Great Purge)- Vụ luu đầy sau Thế Chiến (Post-World War II deportations of North Caucasian peoples)- Vụ luu đầy người Ban Tích (The Mass Deportations in the Baltic States of Lithuanians, Latvians and Estonians)
        Tội ác chủ nghĩa quốc gia dân tộc Đức -Phát Xít Đức Nazi Germany and occupied Europe) Vụ Croatia- Tàn Sát Balan (Massacres of Poles in Volhynia and Eastern Galicia)-Vụ Dominican Republic-
        Vụ tàn sát chia cắt lãnh thổ Ấn Độ (Partition of India in 1947)
        Vụ Trung Cộng tàn sát giết dân cướp nước Tây tạng (Republic of China and Tibet)
    Từ năm 1951 đến 2000
        Vụ đánh đuổi ngừoi Đức sau thế chiến thứ 2 (Expulsion of Germans after World War II)
        Chương trình diệt chủng ngừoi dân bản xứ ở Úc từ năm 1900 đến 1969 (Australia 1900-1969)
        Vụ -Zanzibar- Vụ phe cực hũu do Mỹ hậu thuẫn ở Guatemala 1968-1996- Vụ Pakistan (Bangladesh War of 1971) – Tàn sát diệt chủng ở Phi Châu- Burundi 1972- 1993 - Rwanda 1994  - Bắc Hàn (North Korea)-  Equatorial Guinea- Vụ diệt chủng ở Cambodia – Đông Timo và Nam Dương- (East Timor under Indonesian occupation)- Vụ ngừoi Anh tàn diệt cướp đất người Argentina (Dirty War in Argentina)- Vụ Do Thái và Li Băng (Sabra-Shatila, Lebanon) Vụ Sô Viết A Phú Hãn ( Soviet intervention in Afghanistan) – Vụ Mỹ chiếm đóng Viêt Nam (US invasion of Vietnam) Vụ Ethiopia- Iraqi Kurds – India-Tibet- Brazil-Democratic Republic of Congo-Somalia-Azerbaijan- Sri Lanka v.v
Dĩ nhiên là chưa thể đầy đủ, và chưa hết.  Vì khi chủ nghĩa quốc gia nhà nước chưa chấm dứt, thì hành động chính sách diệt chủng nhân danh Nhà Nước Quốc Gia Dân Tộc vẫn còn như chúng ta đang thấy, và thấy rất rõ ở NÃO TRẠNG ngừoi Viêt Nam, những người ĐANG HẬM HỰC với bài nhận định của Tôi, và trong não trạng người Trung Quốc Hán tộc hôm nay.
Trở lại vấn đề của “Nam Tiến” của “dân tộc hùng tráng chúng ta”, để cho rõ ràng có “chứng sử”, Tôi xin giới thiệu tác phẩm của giáo sư đại học Yale, Mỹ- ông  Ben Kiernan (2009). ). Giáo sư Ben Kiernan, người đã lấy trận chiến tiêu hủy thành Carthage  của Hy lạp trong cuộc chiến Third Punic War vói quân La Mã  (149–146 BC) "Là Cuộc Diêt Chủng Đầu Tiên." Tác phẩm nghiên cúu sử về Diệt Chủng qua chủ nghĩa quốc gia dân tộc- “Máu và Đất” Lịch Sử Diệt Chủng và Triệt Sát của Thế Giới từ Sparta (nhà nước thành phố Sparta cổ Hy Lạp ở thế kỷ 7 trước công nguyên -650 BC) đến Darfur  (Blood and Soil: A World History of Genocide and Extermination from Sparta to Darfur. Yale University Press.
Trong tác phẩm này, điển hình như cuộc “Nam Tiến diệt chủng” ngừoi Chân Lạp Chiêm Thành  của người nước Việt Nam, được ghi nhận khá đầy đủ từ trang 102- đến trang 112 (xin đọc bản Anh ngữ cuối bài)
Như những người “yêu nước yêu nòi” của xứ Viêt Nam được giáo dục và vẫn đang truyền tụng lại cho nhau nghe rằng “cuộc Nam Tiến mở mang bờ cõi , công lao vĩ đại của cha ông chúng ta khởi đầu từ thời Lý, với Lý Thánh Tông (Bình Chiêm 1069) đến triều Nguyễn sau này. Nhưng tác giả Ben Kiernan nghiên cúu có “nhẹ nhàng” và khoa học hơn, nên đặt trọng tâm vào thời điểm khi có chính sách diệt chủng rõ ràng của Việt Nam đối với Chiêm Thành (champa) từ năm 1390 đến 1509- (The Vietnamese Destruction of Champa 1390-1509)- Nghĩa là tiến trình dân tộc có quốc giáo Phật giáo Đại Việt “từ bi, hỉ xả” diệt chủng dân tộc Hồi giáo Chiêm Thành “về cực lạc”- được kéo dài từ cuối thời nhà Trần, Hồ, đến Lê Mạt- Lê Uy Mục-. Nhưng cao điểm là vào thời Lê Thánh Tông, mở đường cho các Chúa Nguyễn sau này dễ dàng vào chỗ “không người” (Terra Nullius) gọi là miền Nam. Tác giả tham khảo, ghi nhận lại những chi tiết đối thoại và “nét đạo đức giả” của vị “thánh đế anh hùng dân tộc” của giống nòi Rồng Teo Thánh Tông (1471) như sau
“Quân Việt bắt sống 50 hoàng tộc Chiêm Thành. Quân Việt bắt trói vua Chiêm Trà Toàn lôi đến quì trước mặt Lê Thánh Tông. Thánh Tông hạch Trà Toàn:
T.Tông: “Ngươi là vua Chiêm phải không?”
T.Toàn: “Phải”
T.Tông: Ngươi biết ta là ai không?
T.Toàn: Nhìn diện mạo ngài, tôi biết ngài là hoàng đế.
 T.Tông: Ngươi có bao nhiêu con.
T.Toàn: Có trên mười đứa.
Thánh Tông tha mạng cho Trà Toàn và cho Toàn giữ lại (2) hai người vợ. Khi quân lính lôi Trà Toàn đi ra, Thánh Tông nói với theo ra lệnh phải đối xử với Trà Toàn đúng theo cương vị cụu Vương của một xứ. Nhưng thật ra Lê Thánh Tông đã ra lệnh trục xuất hoàng tộc Chiêm cùng 30 ngàn tù binh Chiêm về đất bắc Việt. Trà Toàn chết luu đầy bệnh tật trên chiếc tầu đi đày đến đất Việt nam. Đầu của Trà Toàn bị chặt bằm và treo ở mũi  thuyền . Gia đình hoàng tộc Chiêm của Trà Toàn bị nhốt vào một khu bên cạnh cung điện Thăng Long (Hà Nội); họ sống ở đây 30 năm. Một số sau được ra làm gia nhân cho các nhà quan; còn những kẻ khác bị buộc phải đổi tên họ theo Việt nam. Nhưng dân chúng “Phật tử” Việt càng ngày càng chống những người đồng hóa vào Việt xã hội Viêt nam này -trang 110-sách đã dẫn-( sao mà giống bọn quốc xã, và đám thiểu số thiên chúa gíao đầu trọc kỳ thị thời nay ở Đức, Áo, Hà Lan, Úc thế nhỉ!- Cuộc mở mang bò cõi của phật giáo Đại Việt -Lê Thánh Tông năm 1471 đã tàn sát trên 60,000 người-đốt phá toàn bộ thủ đô nước này- nkptc)  
Những kẻ theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc Đại Việt chắc không tránh được mỉm cười “tự hào dân tộc công đức tổ tiên”. Và dĩ nhiên những con dân Chàm-Khmer Krom hôm nay đang còn sống rải rác trên khắp thế giới, vẫn bi phẫn rướm lệ khi học lại bài lịch sử dân tộc thương đau.
Mà thật ra cái gọi là “nụ cười tự hào bờ cõi dân tộc ” của đám “rồng teo” có thấm gì với “nụ cười tự hào bờ cõi dân tộc ” của Hán tộc Trung Quốc! Nó “mở mang bờ cõi nhiều hơn, tàn sát đồng hóa nhiều hơn, và hôm nay, cũng như Việt Nam, chưa thèm ngưng lại- Không những vậy mà “bi phẫn rướm lệ” bị ngoại bang đô hộ cướp bóc của dân “Rồng teo” cũng chẳng kém dân Chàm là bao: Vẫn đang đe dọa tiếp diễn!
Qua những nỗ lực truy tìm và lên án những cuộc thảm sát diệt  chủng từ tư tưởng kỳ thị chủng tộc này, và từ đó, những tên “cụu anh hùng dân tộc” đẫm máu của các xứ sở tiến bộ ở Âu Tây như Mỹ, Anh, Pháp,Úc v.v đã lên bàn mổ của sử gia và các nhà nhân văn học. Những cuộc “Nam Tiến” chiếm đất mở mang bờ cõi, lập quốc, với lý cớ cổ điển sai lầm ngụy biện “đất hoang” (Terra Nullius) như, Anh, Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Pháp, v.v đều không chỉ bị đồng thuận bác bỏ, lên án liên tục trong văn bản tài liệu phim ảnh, sách vở giáo khoa v.v mà đã đưa đến những công nghị xin lỗi của quốc gia với những nhóm dân thiểu số bản xứ còn tồn tại, rồi còn những hiệp ước được ký kết để bồi thường họ chính đáng, điển hình là Nhà Nước Chính Phủ Úc Đại Lợi đã chính thức lập Công Nghị quốc gia xin lỗi người dân bản xứ. Những lập luận này hiện nay chỉ còn tồn tại ở trong não trạng của những nhóm thiểu số tôn giáo cực hũu kỳ thị, và vẫn bị thường xuyên lên án. Nhưng nó lại cực thịnh và được ca ngợi trong sinh hoạt của toàn bộ “dân tộc Viêt hiếu hòa cao quí”. Và mỉa mai thay, nó lại càng được xiển dương gào thét nhiều nhất bởi chính những công dân Tây phương gốc Việt, những kẻ đang là "Công dân văn minh" của những xã hội mà giá trị nhân bản đã thay đổi nâng cao, đang lên án những hành động diệt chủng từ quá khứ đến hiện tại.
Chúng ta tự hào mãn nguyện vì tổ tiên chúng ta tàn bạo ăn cướp tru diệt người khác nhân danh tổ quốc sinh tồn, mạnh được yếu thua-  thì người khác cũng tự hào và lý luận như vậy- Chúng ta đau khổ uất hận căm thù vì bị người khác đàn áp cướp đất giết hại như giữa Việt và người Hoa – thì người khác cũng đau khổ uất hận căm thù chúng ta, như giũa sắc dân Việt đàn áp giết hại diệt chủng dân Chàm- và Khmer Krom hiện nay. Chúng ta thêu dệt hư cấu  bốc phét  hung hăng tự hào “tổ cò dân tộc Viêt thường”, thì người khác cũng gian manh ngang ngược “dân tộc tổ cò Đại Hán”. Còn ngụy biện bài bây cãi cối để lý luận rằng, lịch sử là tương tranh “mạnh được yếu thua” của luật sinh tồn.. Thì chúng ta nên câm miệng lại, đừng mở mồm cao giọng đạo lý nhân quyền  tố cáo ai hết, đừng nhân danh cái gì hết, đừng phân bua phải trái với ai hết- hãy cứ “khôn ngoan” mà lo vũ khí bạo lực để mà vĩ đại tự tồn. Còn nếu để yếu hèn thì bị tiêu diệt  trong thế tương tranh luật rừng, ráng mà chịu. Huề cả làng!
Nhưng nếu khi đã nhận thức rằng bảng Giá Trị Con Người  Xã Hội Tương Quan đã thay đổi, đã vươn lên đến một nền Nhân Bản chung – mà chúng ta dùng nó, đặt nó làm nền tảng để từ nó được hưởng quyền lợi được tôn trọng và bảo vệ trong xã hội nhân loại- để lên án tố cáo người khác vi phạm –như những công dân Tây phương gốc Việt đang thực hiện ở những xã hội đã tiến bộ- và những công dân Viêt đang đấu tranh đòi hỏi tại CHXHCNVN-  thì chính chúng ta, với nột tự trọng tối thiểu, cũng phải biết tôn trọng cái quyền lợi của những Con Người khác, và lên án những hành động sai trái bất kể là ai, dù ngay chính từ tổ tiên của chúng ta cho đến thế hệ hiện tại của chính mình, như những con người nhân bản thật sự như Ben Kiernan, Raphael Lemkin, người luật sư Balan gốc Do Thái đã vận động để có Qui Ước về Diệt Chủng này- những người như họ đang thực hiện và vận động ráo riết không ngừng nghĩ hôm nay.
Bằng không, thì chính những kẻ chi biết nhân danh giá trị cao đẹp nnân bản của nhân loại tiến bộ để hưởng lợi cho riêng mình, để tố cáo đối thủ mà mình không thích, nhưng sau lưng, bên trong lại ca ngợi xiển dương điều đốn mạt bất nhân của mình và của phe mình, thì chẳng qua chỉ là loài dòi bọ ký sinh đê tiện của nền Nhân Bản hôm nay mà thôi.
Khi đã thành loài ký sinh đê tiện của nền Nhân Bản hôm nay, thì không còn gì để nói, chỉ còn sự phỉ nhổ, nếu không tiếc một bãi nước bọt.
NKPTC

Wednesday, September 10, 2014

Khi một xã hội mà chỉ còn dựa trên tính thực dụng.

Khi một xã hội mà chỉ còn dựa trên tính thực dụng.



“Mặc kệ nó” là đặc điểm nổi bật của một xã hội kém nhận thức, tại những xã hội như vậy con người sẽ chỉ sống theo bản năng của họ. Một trong những nguyên nhân  tạo ra tệ nạn này đó là vì xã hội chúng ta thiếu vắng hầu như hoàn toàn những người tiên phong giám dn thân vận động  để nâng cao nhận thức của con người. Để rồi cho tới ngày hôm nay những cái sai từ ngàn xưa vẫn tồn đọng rõ nét trong “văn hoá Việt Nam” ngay hôm nay, song song đó con người luôn bị các thế lực như tôn giao – chính quyền  tìm mọi cách ngăn cản sự phát triển về mặt nhận thức của con người để bọn chúng dễ cai trị.

Một dân tộc chỉ có “rận” thức và trí ngủ:

          Câu hỏi đầu tiên lóe ngay  lên trong đầu của Người Việt Nam hôm nay trước khi làm một điều gì không thuộc lãnh vực bản thân, như khi “giúp đỡ” ai khác, nhất là  làm  một việc có liên quan tí gia vị của xã hội, là: “Việc đó mang lại lợi lộc gì cho tôi; người này sau này có thể giúp lại gì cho tôi!?” Câu trả lời cho những câu hỏi như thế đã là thước đo, là nguyên lý nền tảng hành xử “xã hội” của người Việt Nam.
          Người Việt Nam  đã bị nhuần nhiễm những suy nghi khôn lỏi được ca ngợi là khôn ngoan bén nhậy này từ bao thế hệ nay, và nó còn lưu lại rõ ràng trong các câu nói cửa miệng hàng ngày của họ, để “giáo dục” cũng như khích lệ hoặc cảnh cáo lẫn nhau khi thấy ai đó, nhất là người trong gia đình làm một việc có liên quan đến công đồng như :
          “ Ăn cơm nhà làm việc vác tù và hàng tổng”
          “ Việc nhà thì nhát, viếc chú bác thì siêng”
          Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu như một xã hội chỉ còn những người coi việc “Ai chết mặc ai - tiền thầy bỏ túi” là đúng? Thì thử hỏi xã hội đó sẽ đi về đâu?

Lối sống vị kỷ

Cứ nhìn xã hội Việt Nam ngày hôm nay thì chúng ta có câu trả lời trung thực nhất:  một “xã hội” không có tính xã hội, thiếu vắng hẳn tinh thần cố kết, chỉ còn lại một “bầy thú” có cái tên gọi là “người”.  Vì xã hội loài người có nghiã là chúng ta phải có trách nhiệm với cộng đồng mình sống, chúng ta không chỉ phải lo cho chính chúng ta mà còn có nghiã vụ san sẻ, bảo vệ và giúp đỡ lẫn nhau. Vì thế nên chúng ta mới có những viện mồ côi, những hội từ thiện, và con người đặt ra những điều  luân lý,giá trị đạo lý và ngay cả luật pháp, để lên án hay trừng phạt những ai nhẫn tâm nhìn đồng loại mình vật lộn trong khó khăn, gian nguy hoặc đang chết mà không cưu….
Thực trạng xã hội Việt Nam hôm nay, chuyện người ta có thể vì một con chó mà giết nhau, con cái có thể sẵn sàng giêt cha mẹ chỉ vì chia tài sản không như ý; hoặc trong nhiều trường hợp, người ta đã nhẫn tâm làm ngơ cho đồng loại nằm chết bên lề đường khi họ bị tai nạn giao thông... hầu như không còn một sự tệ hại xã hội nào mà không là “bình thường” với người Việt Nam.
Từ đó đưa đến một thực trạng nếu một ai trong gia đình có “ý định” làm việc gì đó có tính cách xã hội thì sẽ bị chính những người thân của họ là những ngưòi đầu tiên dèm pha, chế diễu,... họ  không chỉ bị đánh giá là làm việc vô bổ, không mang lại “lợi ích” mà hơn thế nữa họ còn bị xếp vào nhóm những người điên rồ sống “cõi trên”.  Tại công sở thì nếu một ai đó đứng ra đấu tranh bảo vệ cho người bạn đồng nghiệp thì sẽ bị coi là những người chẳng biết lượng sức mình, kẻ không thức thời,...Nhưng nghịch lý hơn hết là chính những kẻ xếp hạng những người “muốn” làm việc xã hội vào nhóm những kẻ mất trí, chẳng biết lượng sức mình, không thức thời ...lại chính là những kẻ luôn lớn tiếng kêu gào, than phiền và lên án rằng: Xã hội hiện nay quá băng hoại. Họ khác nào những người than vãn nguyền rủa bóng đêm, nhưng lại không muốn đưa tay mình ra để đốt ngọn đuốc, thậm chí không dám bật một que diêm. Và nếu ai ai cũng chờ người khác đốt đưốc thì vĩnh viễn bóng đêm sẽ vẫn bao trùm trên tất cả.

Sống theo Bản Năng:

          Tôn thờ quyền lực - sức mạnh là bản năng sẵn có của mọi sinh vật, và tại các xã hôi như xã hội Việt Nam. Nó được hun đúc trong hầu hết mọi con người, trong từng gia đình Việt Nam.  Vì họ hoàn toàn không hề biết tới giá những giá trị căn bẳn như giá trị tự thân, giá trị nhân bản, dân quyền và nhân quyền. Trong gia đình cha mẹ là những tên độc tài đầu tiên bắt con cái phải tôn thờ quyền lực của mình. Ngoài xã hội thì “luồn lách len lỏi lại lên lương” là một phương châm sống. Một xã hội như vậy làm sao có chỗ cho những cái mầm của công bằng, bác ái, lẽ phải đâm chồi. Từ s tôn thờ quyền lực này dẫn đến con người bất chấp mọi luân thường đạo lý sẵn sàng vâng phục cấp trên để giết hại lẫn nhau, hoặc sẵng sàng làm ngơ trước tội ác chỉ vì kẻ làm ra tội ác là người có quyền lực hơn mình. Lẽ phải, công bằng không có được nhờ quyền lực mà ngược lại công bằng, lẽ phải, công lỹ sẽ bị giết trong tay những kẻ có quyền lực và bọn thuôc hạ của chúng.
         Tính tham lam, ích kỷ chỉ muốn tích lũy là bản năng sẵn có của sinh vật “người” đã biến chúng ta thành nhưng động vật bất nhân dã man với đồng loại hơn mọi sinh vật trên quả điạ cầu này, vì chúng ta có thể giết nhau chỉ để thoả mãn lòng tham vô đáy, chỉ vì chạy theo những ham muốn vật vật chất không giới hạn.
         
Lạm dụng thượng đế:

          Nhưng nếu một ai đó cống hiến trọn cuộc đời mình cho nhân loại thì sau khi họ chết sẽ được con người  trao tặng cho những người đó những danh hiệu như “Chúa – Phật – Tiên – Thánh Nhân…”, có thể lúc ban đầu họ muốn đề cao – vinh danh những người này, nhưng tới ngày hôm nay ta có thề nói những người này bị bọn “giáo hội của các tôn giáo” lợi dụng, chúng nhân danh họ để chia rẽ con người để phục vụ cho lợi ích của “giáo hội”. Tuy rằng ai cũng nói: “Tôn giáo nào cũng tốt”, nhưng chính khi họ nhận mình là người của bất kỳ một tôn giào nào thì phần đông đã coi tôn giáo của họ đặc biết hơn tôn giáo khác. Và đó cũng khởi điểm cho sự chia rẽ con người giữa các tôn giáo. Từ đó họ có thể làm ngơ cho người của tôn giáo khác bị đàn áp hoặc đối xử bất công miễn sao không phải người trong tôn giao của họ bị đàn áp.
Vậy nên chúng ta có thể kết luận rằng: Để khỏa lấp cho sự hèn hạ của họ, họ tự an ủi  chỉ nhưng siêu nhân mới có thể cống hiến cuộc đời cho đồng loại. Nếu không phải như vậy thì tại sao họ có thể ung dung hàng tuần tới nhà thờ – đi chùa … để đọc – tụng kinh, và nghe kể về những việc mà thượng đế của họ đã làm  lúc còn sống? Để rồi họ thản nhiên ra về không hề đoái hoài đến đồng loại họ. Tồi tệ hơn nữa là ngay chính khi họ đang hiện diện tại nhà thờ - chùa trong đầu họ là những kỳ kèo trả giá ích kỷ - trao đổi với Thượng Đế. Và hầu hết những kỳ kèo – trao đổi – van xin này đều chứa đựng sự ích kỷ như ( cho tôi – cho con cái tôi – cho gia đình tôi). Để rồi với những đồng tiền của họ hy vọng sẽ “đút lót” được “thượng đế”, họ tự biến mình thành những “con chiên trung thành” cho những kẻ nhân danh thượng đế qua những phi vụ buôn bán như vậy.  Chính sự tự nguyện vâng phục không chất vấn đã biến họ thành công cụ cho không biết bao tôi ác và chia rẽ, do chính các kẻ đại diện thượng đế với cái áo tôn giáo to ra để phục vụ quyền lợi cho chúng.

Niềm tin mù quáng vào tôn giao:

Thế nhưng có bao nhiêu người tìm hiểu thật về “thượng đế” của mình hay họ chỉ theo tôn giáo một cách máy móc, phần đông là do cha mẹ họ là người đã thuộc về tôn giáo đó, vì đã có một lúc gặp khó khăn, bệnh hoạn.. họ tưởng rằng cùng đường bí lối và đã khấn nguyện “hối lộ” với 1 ông thần nào đó: “Nếu ngài giúp  tôi qua cơn hoạn nạn này tôi sẽ là con chiên trung thành của ngài”, hoặc vì muốn lấy được người mình yêu thương nên  bị ep vào tôn giao ( phần lớn chuyện này xẩy ra ở người công giao)…. Cho dù với một lý do nào đi nữa thì đa số chúng ta tin một cách mù quáng không bao giờ giám chất vấn tôn giáo của mình.
Niềm tin tôn giáo biến con người thành những cỗ máy không còn tư duy chỉ còn biết “phúc cho kẻ không thây mà tin”, nếu chỉ để tin vào loài người được nặn từ cục đất xét mà ra thì tin người Việt Nam nở từ 100 quả trưng  có căn cư hơn. Chính lúc con người đặt niềm tin hoàn toàn vào tôn giao cũng là lúc họ đánh mất lương tâm của họ.

Với tôn giáo Thượng đế chỉ là tên lái buôn lưu manh:

          Làm sao có thể chấp nhận được khi một người công giáo, phật giáo hay bất kỳ một tôn giáo nào đó lại có thể cầm vũ khí giết hại đồng loại mình với bất kỳ một lý do nào, khi mà Thượng đế của họ kêu gọi yêu thương mọi người,  kêu gọi từ bi hỉ xả, kêu gọi không sát sinh  ngay cả những con thú… nhưng nhìn lại xã hội chúng ta thì sao? Cũng chính những người thuộc nằm lòng những bài kinh, những lời giảng dậy của thượng đế của họ lại hàng ngày nhẫn tâm nhìn đồng loại quằn quại trong đau khổ, họ không chỉ nhìn mà còn trực tiếp hành hạ đồng loại qua những việc làm hàng ngày của họ chỉ vì một chút tư lợi và họ có thể nhẫn tâm tàn sát ngay những người thân nhất của họ.  

Tôn giáo không làm cho con người yêu thương nhau hơn mà chỉ tạo chia rẽ và biến con người thành những kẻ nô lệ tinh thn, chỉ vì chúng rao bán một mặt hàng không tưởng dưới những mỹ từ đẹp đẽ. Và khi có một ai chất vấn sẽ bị chụp mũ thành những tên phỉ báng tôn giáo, những đứa vô thần và  là cộng sản…cũng  ví như một trò chơi hên xui “nhỡ may có thật những lời hù doạ kiếp sau như lời bọn nhân danh thượng đế rao giảng. Thôi thì bỏ tí tiên mua chiếc vé cho kiếp sau “nếu có””.
 Nếu quả thực có thượng đế thật chẳng lẽ ngài không biết được những suy nghĩ những tinh toán hơn thua – mua bán của con người với ngài? Nếu quả thực như vậy thì Thượng Đế quả là một tên lái buôn lưu manh.

Sơ lược về lịch sử cận đại

          Sự vô trách nhiêm với xã hội tồn tại được dĩ nhiên không chỉ nhờ vào những “triết lý sống” sai lầm được truyền miệng hết đời này qua đời kia, cũng không chỉ bởi sự ủy thác mọi việc vào một đấng tối cao mà di nhiên nó tồn tại được là do phần chính được bọn nhà nước củng cố và ngấm ngầm đẩy mạnh. Xét lịch sử cận đại chúng ta có được những bằng chứng rõ ràng về nhận định của tôi.
Trước đây dưới sự cầm quyền của bọn “ngụy VNCH” tại miền nàm Việt Nam, chúng đã tìm mọi cách chia rẽ giữa tôn giáo, chúng đàn áp phật giáo và tạo mọi ưu đãi cho công giáo. Với luật 10/59 chúng chia rẽ người dân với người dân.
Ở ngoài BẮC dưới sự cai trị độc tài toàn trị, với cuộc cải cách ruộng đất đã làm cấu trúc gia đình bị phá vỡ khi con đấu tố cha - mẹ, vợ đấu tố chồng thì làm sao con người còn có thể tin tưởng vào nhau nữa?  Rồi sau đó là chính sách “tam tam trị” từng người - từng gia định tự “rình rập” lẫn nhau vì vậy xã hội Việt Nam càng chia rẽ…
          Nhìn lại lịch sử nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng, thì tất cả mọi cuộc chiến tranh đều do lòng tham của con người mà ra, và hầu hết đều do nhóm thiểu số cai trị dấy động. Nhưng tại sao  người ta cho tới hôm nay không nhận ra được mọi cuộc chiến trong quá khư, hiện tại và trong tương lai đều chỉ phục vụ quyền lợi và quyền lực cho bọn cầm quyền – nhà nước và giới đại bản. Chỉ với những lời hứa hẹn, một ít bổng lộc nhưng những xác chết do chiến tranh gây ra là ai? Có bao nhiêu ông vua bỏ xác tại chiến trường, có bao nhiêu ông tổng thống bà thủ tướng chết trận? Câu trả lời sẽ là không mấy người - những ai tạo ra các cuộc chiến tranh? Chắc chắn không phải là người dân! Cũng chỉ vì lòng tham – tính ích kỷ của con người đã biến họ thành những cỗ máy giết hại đồng loại và song song đó giết hại chính con NGƯỜI trong họ.

Chia để trị:

Ngày hôm nay khi đất nước “thống nhất” nhưng chúng tạo ra  những phân biệt như gia đình “ngụy quân - ngụy quyền”, gia đình có công với cách mạng, gia đình thương binh liệt sỹ,… những phân biệt trong xã hội này đã làm cho con người  nghi kỵ lẫn nhau biến họ không chỉ không quan tâm tới người hàng xóm của mình mà chính họ là những tên công an của chính họ, tìm mọi cách để đấu tố người hàng xóm của mình, tao thành tích nhằm được một chút lợi lộc từ bọn nhà nước ban phát. Chúng luôn không ngừng tạo ra những đố kỵ trong xã hội làm cho con người cảm thấy lo lắng và nghi kỵ lẫn nhau để người dân chỉ còn cậy nhờ vào sự bảo vệ của nhà nước và qua đó chúng chính đáng hoá hệ thống công an trị mà người dân không nhận ra được rằng những mâu thuẫn này phần lớn là do bọn nhà nước tạo ra. Chúng tựa như những tổ chức Mafia chuyên đi thu tiền bảo kê của người dân để chúng bảo vệ họ trước chính những tên du đãng do chính chúng nguỵ tạo ra.
Trong tất cả mọi ban ngành thì chúng đặt ra không biết bao nhiêu chỉ tiêu, định mức để người ta câu xé cạnh tranh, tranh dành nhau đạt được những chỉ tiêu mà chúng đưa ra để được một tí bổng lộc của chúng ban phát, vi dụ trong giáo dục thì chi tiêu số lượng học sinh lên lớp,  giao viên giỏi,… trong nhà cac cơ quan thì can bộ tiên tiến … chỉ vì một tí lợi lộc do đạt được những chỉ tiệu của bọn chúng đặt ra khiến con người đố kỵ lẫn nhau và ngoài ra còn đưa đến một tệ nạn khác đó là “bệnh thành tích”, do sợ không đạt được những chỉ tiêu không thể đạt được do chính bọn chúng đưa ra, nên người ta phải tìm mọi mánh khóe bịp bợm lẫn nhau, vì hầu hết những định mức chúng đưa ra hoàn toàn không phù hợp với thực tế.
Nhưng con người thật ngu đần họ như những “chú lừa và củ cà rốt”,  họ cấu xé nhau chỉ vì mốt tí lợi lộc từ những giọt mô hôi của chính họ còn phần lớn bổng lộc lại rơi vào tay của những bọn ban ơn cho họ. Thế nhưng họ lại cảm thấy rất biết ơn với những kẻ đang hành hạ họ. Đúng ra họ gặt hái được nhiều hơn nữa và thành quả lớn nhất mà họ đạt được đó là: Họ sống là NGƯỜI và không phải từng giây từng phút phải tự làm tổn thương  đồng loại và chính lương tâm họ. 
Khi “mặc kệ nó” đã thành chân lý sống thì chính phủ sẽ là tên “bảo kê” chắc chắn nhất cho đám “thú đi bằng hai chân” này. Chúng ta sẵng sàng chấp nhận biến thành  những con sói cấu xé chính đồng loại và tự nguyện là những con bò sữa với bọn nhà nước, sẵng sàng để cho bọn nhà nước vắt sữa  - hành hạ và giết thịt phục vụ cho mục đích cá nhân của chúng.  

Nhồi sọ - tuyên truyền:

  Sự băng hoại toàn diện của xã hội ngày hôm nay phần lớn là do bọn nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra. Tham ô, móc ngoặc, “hợp pháp” cướp bóc tài sản của người dân, giáo dục xuống cấp,... ai có thể làm được những điều này? Chắc chắn không phải là người dân lam lũ lao động. Chỉ có bọn nhà nước mới có thể làm được, vì trong tay chúng có quyền lực chính trị, có quân đội và nhà tù. Ngoài ra chúng còn nắm trong tay một hệ thống thông tin đại chúng. Với nhà tù, quân đội … chúng chỉ có thể hành hạ, khng bố thể xác chúng ta. Những phương pháp này đã được chứng minh trong lịch sử là không mang lại nhiều kết quả, bằng chứng cho thấy trong các chế độ phong kiến với biết bao hình phát man rợ như tùng xẻo, lăn chì, voi dầy, phanh thây, chu di tam tộc… nhưng cũng không thể khng chế được con người. Ngoài ra việc cai trị theo biện pháp này không mang lại lợi nhuận cao, vì khi con người bị bắt buộc làm việc gì đó thì họ có xu hướng chống  và làm ngược lại.
Nhưng với thông tin, thì bọn chúng có thể nhồi sọ , tẩy não người dân giết chết những ý tưởng đối kháng từ trong trứng nước. Ý thức được việc này nên các vua chúa ngày xưa đã dùng mọi biện pháp để khống chế sự hiểu biết của người dân bằng cách đốt sách. Ngay hôm nay bọn cầm quyền với những thủ đoạn gian manh hơn nhiều,  bằng những thông tin sai lệch chúng biến con người thành nhưng kẻ “nô lệ tự nguyện” - tuyệt đối trung thành với bọn chúng. Cai trị bằng phương pháp này vừa mang lại lợi nhuận cao mà còn biến con người thành những con chó săn đắc lức, họ tự tiêu diệt lẫn nhau.
Ngay từ những ngày đầu tiên bước vào ngưỡng cửa nhà trường chúng đã tẩy não con người bằng những bài hát, câu thơ, bằng những câu truyện huyền thoại như: Ong vò vẽ đánh Mỹ, năm điều bác Hồ dậy, Đêm qua mơ gặp bác Hồ… rồi hệ thống truyền thông đại chúng ( báo trí, truyền hình, radio…) hàng ngày chúng tiêm nhiễm vào đầu chúng ta những thứ rác rưởi để rồi chúng ta mặc nhiên tự động trở thành những người vệ sỹ trung thành bảo vệ nhà nước dựa trên những giá trị chiù tượng không thực như:  Yêu nước, dân tộc, bản sắc dân tộc.  Và thế là bất cứ ai chống lại chúng t động biến thành phản quốc, phản bội dân tộc đối với những người chung quanh. Và họ tự  giác xa lánh những người này hoặc tệ hại hơn nữa là chính họ sẽ là những tên đầu tể thay cho bọn nhà nước.

Hướng giải quyết:

Nhưng bọn nhà  nước - tôn giao hay bất kỳ một thế lực nào cũng chỉ có thể leo lên đầu chúng ta được khi chúng ta cho phép chúng làm, vì khó có ai có thể leo lên đầu bạn nếu bạn không khòm lưng xuống. Chính sự vô trách nhiệm với xã hội của người dân đã trực tiếp đẩy xã hội của họ vào vực sâu của băng hoại.
          Hậu quả của một xã hội băng hoại sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống của mọi người dân trong xã hội đó, chỉ ngoại trừ một số ít những kẻ tạo ra những băng hoại và những kẻ tay sai cho chúng là những người được lợi. Sự thật hiển nhiên bọn cầm quyền (thế quyền cũng như thần quyền) là nguyên nhân chính tạo ra những băng hoại ngày hôm nay và cũng chính là những kẻ đang gặt hái quyn lợi qua đó. Chúng ta sẽ không thể ngồi im cầu xin, đợi chờ bọn chúng nhân đạo với chúng ta khi chính chúng là nguyên nhân tạo ra những bất công trong xã hội. Cũng vì vậy chúng ta không thể phó mắc số phận chúng ta vào tay bọn chúng và chỉ với “hy vọng” hay “van xin” mong rằng một ngày nào đó bọn chúng sẽ nhân từ gii quyết những tệ nạn mang lại lợi lộc cho chúng và do chính chung gây ra.
Chính chúng ta phải là những người giải quyết những vấn nạn này và song song đó còn phải la lớn với hy vọng người hàng xóm vén tay áo lên và cùng bạn đấu tranh. Việc sánh vai cùng bạn đấu tranh không phải vì nạn nhận hôm nay là hàng xóm bạn những ngày mai chắc chắn sẽ là bạn, mà đó là một việc làm của những người hàng xóm tốt và hơn thế nữa nó còn là trách nhiệm của một người sống trong cộng động.
          Ai ai cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc khi họ đưa tay dắt một người khiếm thị qua đường, chúng ta không hạnh phúc vì lời cám ơn của người này và cũng không phải vì “hy vọng” anh ta sẽ làm gì cho bạn sau này mà vì cảm thấy mình vừa làm một viêc có ích giúp cho đồng loại. Thế tại sao chúng ta lại không làm những việc mang lại hạnh phúc cho chúng ta? Khi con người không còn quặn đau, cảm thấy nhói trong tâm hồn khi đồng loại mình bị hành hạ thì khi đó ta có khác gì các động vật khác không?
          Muốn thay đổi xã hội cũng vậy khởi điểm bao giờ cũng đi từ một người và đi từ những việc làm bình thường nhất. Vì không bao giờ có được hai người khi không có một người, cũng như không thể đạt được những việc vỹ đại khi không bắt tay vào những việc nhỏ nhất. Mỗi cá nhân là chủ thể của xã hội mình sống, hiện trạng xã hội chính là kết quả của việc làm của từng chúng ta. Chúng ta phải biết can đảm đứng lên trên những lời dèm pha xúc xiểm của kẻ khác,  họ chỉ muốn kéo người khác xuống như họ.
Giám tạo tranh luận trong mọi lãnh vực, không có một đề tài nào là “tế nhị” và không nên nói tới vì tất cả  đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống chúng ta vậy tại sao chúng ta lại không được đóng góp ý kiến của mình. Tại sao mỗi người có một cái đầu để làm gì nữa khi chính trị là đề tài độc quyên của nhà nước và tôn giao chỉ có những người đại diện tôn giao đuợc nói tới?
Chúng ta phải tước lại quyền làm chủ vận mệnh của mình nói riêng và của cộng đồng ( xã hội ) nơi chúng ta sống. Không để bọn tôn giáo – nhà nước biến chúng ta thành công cụ phục vụ đàn áp người khác. Trên thực tế với xã hội Việt Nam ngay hôm nay chúng ta có thể bắt đầu từ những việc gì? Chỉ cần đầu tiền là hàng ngày chúng ta thực hành những điều chúng ta đang dậy con cái về mặt đạo đức làm người đã là một bước tiến rất lớn rồi. Sau đó để tiến thêm một bước cao hơn thì chính mỗi cá nhân  phải  tuyên chiến với chính mình, tuyên chiến với phần “con” trong chúng ta. Vì đây không chỉ là cuc chiến chống lại các định chế có sẵn mà là cuộc chiến hoàn thiện bản thân. Và đây là một cuộc chiến chỉ có chiến thắng và luôn mang lại hạnh phúc cho chúng ta, nó sẽ kéo dài cho ti khi con người không còn tồn tại trên quả điạ cầu này nưa ./. 

Thiên Chương 
13.12.2012

Tuesday, September 9, 2014

Một vài ý kiến nhân đọc “Lằn Ranh Quốc Cộng”

Một vài ý kiến nhân đọc “Lằn Ranh Quốc Cộng”


Minh Triết NCD


Sau ngày 30/4/75 khi quân đội miền Bắc đánh bại miền Nam và thống nhất đất nước bằng võ lực, chế độ cộng sản để lộ rõ bản chất tay sai của khối Cộng sản quốc tế khi tiếp tục chính sách  vô sản hóa miền Nam, gạt bỏ những lời hứa hảo huyền về “Tổng tuyển cử” và cho “miền Nam trung lập”. Họ  tiếp thu toàn bộ miền Nam và duy trì sự chiềm đóng với chính sách công an trị gắt gao. Tất cả quân công cán chính chế độ Sài-gòn cũ được tập trung vào các trại tù khổ sai trá hình với tên trại cải tạo.. Các chính sách về kinh tế sau đó như cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản và kinh tế mớI được phát động hầu cướp đoạt của cải, vốn tích lũy của người dân miền Nam, hút sạch máu mủ của người dân đen..Kế đó, các làn sóng vượt biên ồ ạt bỏ ra nước ngoài đã tự phát khi người dân trốn chạy các chính sách hà khắc…Cho đến nay, 28 năm sau ngày miền Nam sụp đổ, đất nước vẫn còn lẩn quẩn trong vòng “xóa đói, giảm nghèo”, nhà nước cố gắng”hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước hầu” xây dựng “xã hội công bằng văn minh” nhưng họ quên rằng gần như toàn bộ hạ tầng cơ sở công thương nghiệp miền Nam đã bị chính họ triệt hạ trong 11 năm liền từ khi “giải phóng” đến khi” đổi mới” năm 1986.

Trước vấn nạn đất nước nóng bỏng đó, một số người trong và ngoài nước chống lại chế độ độc tài hiện thời đề cập tới Chế độ Sài-gòn cũ như một mô hình chính trị dân chủ đầu tiên tại nước ta sau khi thờI kỳ Quân chủ chấm dứt. Theo họ, cho dù các Chế độ này có ít nhiều khuyết điểm trong thờI kỳ non trẻ và do chiến tranh, nhưng nó vẫn là tốt,  vì” bản chất miền Nam vẫn là một quốc gia dân chủ….(?!?)”. Dù có tham nhũng, có thối nát nhưng không đến nỗi tệ như dưới thời cộng sản...

Ðiều thật đáng buồn cho dân tộc là khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (cũng lại “dân chủ”) với nền” dân chủ tập trung” (lạI dân chủ) dướI sự dẫn đường của đảng Lao động Việt Nam gửI quân vượt Trường Sơn, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” để “giải phóng” miền Nam-Việt nam cộng hòa dưới sự thống trị của “tập đoàn quân phiệt Thiệu Kỳ qua đảng Dân chủ”  (cũng lại dân chủ), người dân hai miền đối mặt với hy sinh chết chóc nhưng lại chưa thật sự có được một ngày dân chủ bên này hay bên kia sông Bến Hải, bên này và bên kia chiến tuyến quốc cộng.

Những người Việt  yêu nước, yêu tự do dân chủ chân chính phải đối đầu cùng lúc với cộng sản tay sai Nga Hoa và các thế lực tay sai ngoại bang thực dân mới cũ. Những cái chết như của ông Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, thủ lĩnh của quân giáo phái Hòa Hảo, người bị chế độ ông Diệm bắt đưa lên máy chém khi quân đội Sài-gòn tảo thanh tiêu diệt các thành phần bất phục tùng Diệm hay sự tự sát của nhà văn Nhất Linh (Việt Nam Quốc Dân đảng và việc tự thiêu của Thượng tọa Thích Quảng Ðức để phản đối Chế độ đàn áp Phật giáo (có người cho là đây là âm mưu của cộng sản và thượng tọa đã bị đánh thuốc mê) cho thấy điều này-Những người yêu nước, yêu tự do chân chính bị kẹp giữa hai gọng kềm Cộng sản và Ðộc tài  không là giả thuyết, mà là sự thực.

Miền Bắc với chế độ cộng sản, tất cả tự do tư duy bị bót ngẹt. Tất cả các tiếng nói khác vớI đường lối chỉ đạo của đảng đều bị ghép vào tộI phản động rồi đem ra xét xử, hành hình.

Trong khi đó, miền Nam là “tiền đồn chống Cộng của thế giới tự do”, tuy người dân sống tương đối dễ thở trên nhiều mặt và các chính phủ thay nhau cầm quyền. Nhưng, bản chất miền Nam vẫn là một quốc gia dân chủ giả hiệu, quân phiệt. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh thời ấy, hầu hết các nước Ðông Á lân bang không cộng sản đều có Chế độ độc tài quân phiệt như Phi líp-pin với Marcos, Hàn quốc với Phác-chánh-Hy, Nam Dương với Suharto, Trung Hoa Dân quốc tức Ðài loan với cha con Tưởng Giới Thạch-Tưởng kinh Quốc. Do đó, việc miền Nam có một chế độ quân phiệt, đồng hội đồng thuyền với các quốc gia thuộc “thế giới tự do” chung quanh là chuyện hiển nhiên, không có gì phải dấu diếm! 

Những quyền tự do căn bản về tín ngưỡng, ngôn luận, chính trị, tư hữu, kinh doanh, tuy có được ghi rõ trong hiến pháp, luật pháp (cũng như CSVN hôm nay thôi) nhưng nó được diễn giải, cắt bỏ v.v  tùy theo nhu cầu của cá nhân người cầm quyền hay tập đoàn cầm quyền, chứ không phải một nền pháp trị mà cả hai bên nhân dân và chính quyền đều phải tuân  theo.

Như quyền tự do tính ngưỡng dưới thời ông Diệm bị xâm phạm khi các sĩ quan hay công chức nếu muốn thăng quan tiến chức phải rửa tội, cải đạo theo đạo Thiên Chúa. Về việc tự do ngôn luận và sinh hoạt chính trị, thì mặc dù các đảng phái khác nhau được quyền tham gia chính trường nhưng thực tế dưới thời đệ Nhất cộng hòa, đảng Cần lao của anh em ông Diệm chiếm địa vị độc tôn. Sang đến thời đệ Nhị cộng hòa cũng không mấy khá hơn khi hành pháp vác tiền đi mua phiếu của dân biểu lập pháp và đảng Dân chủ của ông Thiệu giữ các chính vụ then chốt của Chế độ..Các sĩ quan quân đội được  khuyến khích gia nhập đảng Dân chủ.

Chế độ được chia làm tam quyền phân lập với Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp, Nhưng thực tế Hành pháp (dưới sự điều động của ông Diệm, ông Thiệu) cầm cân nẩy mực,quyết định quyền hạn của Tư pháp và Lập pháp ở mức độ thuận tiện cho kẻ cầm quyền. Như vào cuối nhiệm kỳ tổng thống, ông Thiệu có ý định sửa đổi điều luật hiến pháp VNCH giới hạn nhiệm kỳ tổng thống là hai để tái ứng cử, ngồi thêm một nhiệm kỳ nữa. Ðiều này đã làm mất lòng ông Khiêm (đương kim thủ tướng) người được coi như ứng cử viên tổng thống sáng giá của đảng Dân chủ để ra tranh cử khi nhiệm kỳ ông Thiệu chấm dứt vào năm 75. Việc sửa đổi Hiến pháp thuộc trách nhiệm của Lập pháp chứ không phải theo ý ông Thiệu.

Nghành Tư pháp không dám đụng tới các vụ buôn lậu lớn, xuyên quốc gia hay tham nhũng có liên quan tới các nhân vật tai to mặt lớn, đàn em của Thiệu Kỳ như ông cố vấn An ninh quốc gia Ðặng Văn Quang, đề đốc Hải quân Chung Tấn Cang..Ngay cả Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng do chính ông Thiệu dựng lên và do phó tổng thống Trần văn Hương điều hành cũng bó tay vì ủy ban nầy được lập ra để làm kiểng cho vừa lòng Mỹ chứ không nhằm mục đích trong sạch hóa thực sự bộ máy hành chính và quân sự của miền Nam.

Ở một mức độ thấp hơn, việc quân sự hóa bộ máy hành chính nhà nước đưa đến việc buôn bán các chức vụ Chế độ như Tỉnh trưởng, Quận trưởng thậm chí Phường trưởng..v.v..Vì các chức vụ này như Tỉnh trưởng nếu khéo “xoay sở” là đẻ ra tiền từ một khốI dịch vụ bao gồm lính kiểng-lính ma,  giấy phép buôn bán, môn bài mở tiệm.

Tự do ngôn luận được giới hạn ở mức không vi phạm tới an ninh quốc gia nhưng với giới truyền thông thì việc diễn giải tầm mức “an ninh” do bộ Dân vận và Chiêu hồi đảm nhiệm vớI một một viên chức cao cấp chuyên phụ trách vấn đề này.

Nói chung, những cái gọi “ quyền  là tự do dân chủ” mà nhân dân miền Nam “được hưởng” chẳng qua là sự thả lỏng, tăng giảm v.v tùy thuộc vào cá nhân và phe phái ông Tổng thống,(ông Diệm và ông  Thiệu) quyết định để đó  hay  cắt đi, chứ không đưọc đặt theo pháp chế, pháp trị! Vì thế  mới gọi là độc tài!

Các chế độ cầm quyền liên tiếp thay nhau bằng đảo chính cung đình hay sự áp đặt của ngoại bang chứ không được trực tiếp chọn lựa qua đường phổ thông đầu phiếu bởi người dân. Ông Diệm truất phế ông quốc trưởng Bảo đại vốn là người do Pháp đặt vào vị trí nguyên thủ quốc gia rồi lập ra đệ Nhất cộng hòa. Ông Minh và nhóm tướng lãnh gồm các ông Lê Văn Kim, Trần Văn Ðôn, Trần Thiện Khiêm và Tôn Thất Ðính.. đảo chính lật đổ  ông Diệm rồi bị ông  NguyễnKhánh (cựu tư lịnh vùng 2 chiến thuật) đảo chính mở đầu thời kỳ bất ổn trên chính trường miền Nam (13 chính phủ trong vòng 19 tháng từ tháng 11/64 tới tháng 6/66)..Sau đó ông Khánh bị thay thế bởi nhóm Phan Quang Đán-Phan Khắc Sửu. Nhưng  chẳng bao lâu sau chánh phủ dân sự này  lại bị hội đồng quân nhân tướng lãnh Thiệu-Kỳ đẩy xuống..Và chủ tịch hội đồng tướng lãnh là ông Thiệu lên nắm quyền tạo nên nền đệ nhị Cộng hòa.

Việc tham nhũng, hối mại quyền thế, buôn lậu tràn lan trong chính phủ, quân đội khiến việc điều hành đất nước trong thời chiến, đánh nhau với Việt cộng trở thành chuyện phụ. Các vị trí bổ nhiệm được phân phối theo lòng trung thành, phe cánh và quyền lợi.

Chính Phó Tổng Thống Trần Văn Hương xác định là vấn đề tham nhũng là mối hiểm họa sinh tử lớn lao tại Nam Việt Nam khi ông đề cập với ông Thiệu về nguyên do Trung Quốc rơi vào tay Cộng Sản là tình trạng tham nhũng lan tràn của chế độ Tưởng Giới Thạch. Ông tin là ngoại trừ áp dụng những biện pháp mạnh mẽ và khẩn cấp tại Nam Việt Nam, Nam Việt Nam cũng sẽ hứng chịu cùng số phận đó Bất hạnh thay, linh tính của ông đã trở thành sự thật..

Ông Trần văn Hương đã cố gắng trong sạch hóa bộ máy hành chánh và quân sự với ủy ban bài trừ tham nhũng với một tướng “sạch”, tướng Nguyễn văn Hiếu. Ủy ban này đạt được một số kết quả giới hạn. Nhưng cuối cùng, vì một lý do nào đó,  ông Hương  cũng đành phải tuyên bố “diệt hêt tham nhũng thì  lấy ai làm việc..???!!!!” và  vị tướng điều hành ủy ban này lại qua đời trong những ngày chót của cuộc chiến, vào tháng 4/75 trong những nghi vấn mờ ám.

Câu nói bất hủ  của ông Hương đã phản ảnh trung thực hiện trạng xã hội miền Nam lúc đó! Có những điều tồi tệ không thể phủ nhận đưọc như những  hành vi tống tiền trong chương trình chống phiến loạn Phụng Hoàng-một chương trình an ninh tình báo do Xê-I-A tức sở Trung Ương Tình báo Mỹ đề ra và phối hợp với các cơ quan an ninh miền Nam hầu triệt tiêu hạ tầng cơ sở cộng sản bằng cách giam giữ hay vạch mặt cộng sản nằm vùng và các cảm tình viên. Chương trình này đôi khi bị lạm dụng qua các hành động bắt bớ những người tình nghi bị Việt Cộng rồi đòi đưa tiền để họ được thả ra.! Hay những loại tham nhũng gây bất công, ảnh hưỏng trực tiếp đối với dân chúng và gây bực dọc và phẫn nộ, đủ mạnh  để khiến dân chúng thù ghét chính phủ và ngã về phía Mặt Trận Giải Phóng cộng sản. Những điều sai trái này làm suy yếu hiệu năng của chương trình Phụng Hoàng và uy tín của chế độ "quốc gia".

Ðó là chưa nói đến việc bao che, bổ nhiệm tay chân vào các vị trí quan trọng tê liệt hóa nguồn máy hành chính, quân sự tình báo..khiến chúng thất bại khi VC tấn công quyết liệt...như  các trận Hạ Lào Lam Sơn 719 khi bộ Tư lịnh lữ đoàn 3 Dù bị bắt sống, việc thất thủ căn cứ Ái Tử-bản doanh sư đoàn 3 Bộ binh của tướng Vũ văn Giai tại Quảng Trị vào trận mùa Hè đỏ lửa 1972, việc thất thủ Phước Long vào cuối năm 1974 và sự sụp đổ sau cùng của miền Nam.

Như vậy,  những người tự  nhận là “quốc gia”,  nói chung, là những nhân tố cốt cán của chế  độ miền Nam. Do đó, họ phải chịu trách nhiệm về tất cả những cái xấu, tốt của những chế  độ này. Ðúng! khi nói” chế độ cs xấu không có nghĩa dân tộc VN xấu” vì không phải người Việt nam ai cũng là đảng viên và chịu trách nhiệm trong chế độ. Nhưng những người tham, gia đóng góp cho đảng CSVN, và những  đảng viên CSVN phải  có trách nhiệm chứ!   Ngược lại, cũng như vậy, “chế độ miền Nam xấu” thì những người gọi là “quốc gia” cũng phải có phần trách nhiệm trong đó...Người tài xế xe khách chịu trách nhiệm về sự an nguy của chiếc xe và những người ngồi trong xe. Ở đây, những người ngồi là nhân dân hai miền và tài xế là cộng sản ở miền Bắc hay “quốc gia” ở miền Nam.

Nếu không, một cách công bằng, những người nhận mình là cộng sản họ cũng có thể nói rằng không thể chỉ vì khuyết điểm của  một hai đời tổng bí thư, hoặc cái chế độ CS mà lên án cả chủ nghĩa tiên bộ Cộng Sản.. Và các đảng viên khác , những người chưa có cơ hội nắm quyền sinh sát cũng nói đưọc rằng họ không chịu trách nhiệm về những khuyết điểm sai trái của các Ủy Viên Chính Trị, các ông Tổng Bí thư v.v và rằng Ðảng không xấu, chủ nghĩa xã hội không xấu v.v  chỉ có những đảng viên nhũng lạm làm xấu mà thôi v.v

Chủ nghĩa quốc gia, hay chủ nghĩa cộng sản du nhập cũng chỉ mới khai sinh và sấp sĩ gần bằng tuổi nhau mà thôi! Có nghĩa là cả hai cũng chỉ ra đòi nối tiếp sau thời đại phong kiến thực dân!  Mà người ta dùng để giải qưyết vấn nạn của thời đại họ. Cả hai không thể nhận mình là tinh túy của dân tộc!

Cả hai chủ nghĩa này, từ ngày nắm được quyền bính trên đất nước Việt Nam, đã đẻ ra đưọc nhân vật lãnh đạo nào thật sự tốt đẹp, yêu chuộng kính trọng và thực thi tự do dân chủ pháp trị, vì dân vì nước???

Dù vậy, một cách tự trọng và thành thật, chúng ta có quyền hãnh diện và sung sướng nói rằng đòi sống nhân dân miền Nam được khá hơn miền Bắc mọi mặt, hoặc có thể nhận định mà không thấy sai, rằng chế độ miền Nam khá hơn chề độ miền Bắc ở một vài điểm nào đó! Nhưng không thể che mắt bưng tai mà tuyên bố rằng chế độ miền Nam là tự do dân chủ thực sự!

Nói tóm lại, cần nên nhìn lịch sử và những chứng tích của nó một cách chân xác để thấy rõ rằng  tất cả  các thứ chủ nghĩa, hình thái chính trị v.v  chỉ là những phương tiện, dụng cụ cho một dân tộc!( nói chung là cho con người.) Nó có thể dùng để giải quyết vấn nạn của dân tộc đó, xã hội đó trong một thời điểm nào đó  mà thôi! Ðúng hay sai, cũng vẫn cứ phải thay đổi theo nhu cầu mới,  tình hình mới của nhân dân, của nhân loại! Ngay cả chủ nghĩa tụ do dân chủ, hay tôn giáo cũng không là ngoại lệ!

Như thế cái gọi là  “lằn ranh quốc cộng” làm sao lại có thể tồn tại sau 30/4 1975, khi mà không những cả hai phe Tự Do Cộng Sản đã thay đổi trong môi trường mới của thế giới, và cả hai đối thủ một  cũng đã biến dạng thay hình. Tình hình và nhu cầu thực tế hôm nay,  thay vì đặt lại " lằn ranh quốc cộng", chúng ta  nên đề cập tới "lằn ranh dân chủ/ độc tài"  và làm sáng nó ra.. Ðây không phải  chỉ riêng ở Việt Nam vấn đề mới được đặt ra, mà nó là hướng tiến của thế giới nhân loại hôm nay.. Hãy nhìn ra chung quanh xem! Hiện tại, cựu đảng viên cộng sản, cựu  ủy viên bộ chính trị Leszek Miller  đang là thủ tướng Ba-lan, đồng minh Mỹ (mua vũ khí, phi cơ chiến đấu F16 Mỹ ,là thành viên chính thức Nato, sẵn sàng cho Mỹ dóng quân)...Chính phủ phe tả, cựu cộng sản cũ tại Hung-ga-ri lại cho phép Mỹ đồn trú, lập trại huấn luyện thám báo, thông ngôn I-rắc trên đất nước mình. Chính quyền Do-Thái phe hữu, thân Mỹ lại thân thiện, trao đổi, cộng tác trong các lãnh vực tin tức tình báo, phái đoàn quân sự, lực lượng biệt kích với chính quyền Nga do tổng thống trùm KGB Putin đứng đầu vì có cùng kẻ thù chung Hồi giáo cực đoan.

Giả như nếu vì nhu cầu riêng của Mỹ, họ ủng hộ, bắt tay chế độ đương  quyền VN hiện tại,  để nó tiến hóa từ từ thành quân phiệt-tư bản đỏ máu-xanh đô-la với việc đảng cộng sản đổi tên, bỏ đấu tranh giai cấp, như đảng cộng sản Trung Quốc đang nghiên cứ sau lý thuyết “tam biều: Công-Nông-Trí thức:”..thì thế đứng của lằn ranh quốc cộng nằm đâu?!! Và những người nhận là quốc gia chống cộng nằm đâu??! Lúc đó chuyện chống cộng lại có vấn đề vì nó là đồng minh của Mỹ. Mà vì quyền lợi, Mỹ sẵn sàng “kềm” các hoạt động “chống cộng” lại như việc phủ quyết việc treo cờ VNCH gần đây ở tiểu bang Virginia, nơi có khá đông ngườI Việt sinh sống.

Về vấn đề giao lưu với Việt Nam qua nhiều mặt hiện tại, có nhiêù nguồn dư luận đề xuất việc ”cấm vận Việt cộng” từ “cộng đồng hải ngoại”, không xài đồ “Việt cộng”, không về thăm “Việt cộng”, không nghe nhạc, xem băng “Việt cộng” từ trong nước…. Nhưng thực tế cho thấy, các nguồn lợi nguyên liệu xuất khẩu như dầu thô, nông phẩm cùng các khoảng tiền tháo khoán viện trợ của nhiều cơ quan quốc tế, quốc gia đủ cho chế dộ cộng sản tồn tại dù có hay không tiền Việt kiều gởi về..Tại Cộng Hòa Dân chủ Ðức, nước Cộng sản cũ sắt đá nhất trong khối xã hội chủ nghĩa, sự kề cận với các nguồn tin truyền thông như truyền hình, ra-đi-ô Tây Ðức đã cho người dân có khái niệm về sự khác biệt giữa hai thể chế cộng sản(mà họ đang sống) và tư bản.. Ðiều này khiến nhiều người tìm cách bỏ trốn băng qua Hung-ga-ry qua Áo làm cho Hung-ga-ry phải cắt hàng rào kẽm gai của bức màn sắt. Dẫn theo sau đó những biến động chính trị bất ngờ trong khối cộng sản.

Trở lạI Việt Nam, nếu Việt kiều không về thăm Việt nam để tiếp xúc với đồng bào mình thì ai sẽ làm chuyện đó..Chống du lịch Việt Nam để đi Thái Lan hay Trung quốc à.. Ở đó đâu có nói tiếng Việt.!!!” Hay “Cộng đồng người Việt tự do” lại ngồi chờ Mỹ nó “bốc” về như Xê-I-A đã làm với người Cuba và vịnh con Heo à ?!?. Và ngườI Cuba vẫn còn lưu vong ở Mi-a-mi, tạI tiểu La-ha-va-na, cuối tuần vào trường bắn, mặc đồ rằn ri tập đổ bộ, thao dượt quân sự chờ ngày về Cu-ba dù eo biển không xa.

Nếu các chiến dịch ngăn chặn hàng hóa cộng sản Việt nam được phát động thì được lợI nhất vẫn là ..nước Trung Hoa cộng sản nơi giá thành nhân công rẻ khiến tư bản ùn ùn đổ tiền đầu tư hầu xuất khẩu hàng hóa trở ngược lạI các nước tư bản (Trong đó có nhiều mặt hàng cạnh tranh với Việt Nam) và Thái Lan, nơi đa số các thực phẩm Á châu được xuất khầu sang các nơi có đông ngườI Hoa và Việt (Nhưng Thái lan vẫn giam giữ công dân Mỹ gốc Việt Lý Tống như thường!!). Về văn hóa phẩm, băng dĩa thì nếu không xem băng Việt nam, ta xem băng Hồng-kông, Ðài loan nhưng bảo đảm, nhạc, ca sĩ và cảnh trí chắc chắn không phải là Việt nam !!!

Vấn đề còn lại của thế giới  và của chúng ta hôm nay , nhũng người Việt nam yêu nước, yêu dân chủ tự do chân chính, là làm sao ngăn chận xóa bỏ mọi hình thức  độc tài phi dân chủ,  làm sao thiết lập một nền  tự do dân chủ nhân bản thực sự!

Do đó, nhu cầu dân chủ hóa đất nước cần nhấn mạnh việc xóa bỏ mọi hình thức  độc tài, độc đảng (từ bỏ chuyên chính vô sản, tất nhiên đúng dắn và khẩn thiết là vậy). Muốn như thế chúng ta,  thế hệ hôm nay, trong và ngoài nước, người cũ người mới,  cần thẳng thắn, chân thật  với mình và với lịch sử cận đại,  để đưa ra những sai lầm trong quá khứ mà học hỏi,  hầu tránh được những sai xót đáng tiếc  cho công cuộc xây dựng tự do dân chủ đích thực trong tương lai. Ðó mói là thái độ trưởng thành sau bao năm hao tổn xưong máu và mất mát. Bài viết này mong đề ra một cái nhìn từ góc độ khác về những vấn nạn độc tài/dân chủ của đất nước. Ðồng ý hay không vẫn là chuyện của độc giả, nhưng nó được viết ra dựa vào những chứng liệu cận sử. Nhưng đây là những vấn đề chúng ta thực sự cần nói đến cho đất nước, cho tất cả những ngườI Việt trong và ngoài nước yêu chuộng tự do, dân chủ tiến bộ..

Nếu chúng ta,ngaỳ hôm nay,  " người quốc, người cộng" vẫn cứ "giữ vững lập trường" kiên trì mài dao, mài căm xe đạp, dũa kéo,  vạch lằn ranh "quốc cộng"!  Thì  người viết xin "lẩy" hai câu thơ của Tản Ðà sau đây thay tiếng khóc.

Dân "tám mươi triệu" không người lớn!
Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con (!)

Tháng 2-2003
Minh TriếtNCD