Sunday, September 28, 2014

Bằng Chứng Cụ Thể của Tính Bất Nhân Vô Đạo của Chủ Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc

Khi Tôi viết nhận định về tính man rợ bất nhân phi lý của “tinh thần quốc gia dân tộc” trong bài viết “Tổ Quốc, Tín Ngưỡng, Văn Hóa, và những Tội Ác MAN RỢ BẠO NGƯỢC.
“Ngoài yếu tố này, dù Justin không nhắc đến nhiều, theo Tôi, yếu tố độc tôn tự mãn (exceptionalism) của Mỹ sau vụ 911. Khiến gần như cả xã hội chính qui Mỹ mặc nhiên "dể dãi và tha thứ" trong tinh thần "quốc gia dân tộc", mà hầu hết nhân loại này nếu chưa trưởng thành vượt qua để có nhân bản, luôn luôn vướng phải. Như ngừoi Tầu, dù chống chế độ Cộng Sản, vẫn tự hào về thành quả chiếm đóng giết ngừoi của "dân tộc" họ  ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, hay tại Việt Nam.... Và người Việt Nam, một mặt nhồi nhét lẫn nhau về những bài học “nước mắt xương máu” lịch sử “tàn bạo” của Trung Quốc, của thực dân Tây phương đối với dân tộc “hiếu hòa văn hóa nhân bản” Việt Nam ta- mặt khác lại cũng tiếp tục nhồi nhét niềm tự hào trong giáo dục, văn học  về cuộc cái gọi là "cuộc Nam Tiến Mở Mang Bờ Cõi" của "tổ tiên" với những hành động và chính sách diệt chủng- và ngay hôm nay, khi nhân loại đã vượt lên chủ nghĩa dân tộc, lên án tất cả các cuộc diệt chủng, thì người Việt Nam, họ vẫn thì thầm với nhau (không dám to mồm công khai, vì biết sẽ bị dư luận nhân bản thế giới lên án) về "tài ba" của các chiến sĩ ta (Ngụy và Phỉ)  lấn chiếm và khống trị  bọn "mọi" Miên Lào, đàn áp đồng hóa người Khmer Krom.
Não trạng "quyền lợi quốc gia" - "tự hào dân tộc" v.v Nó đưa đến kỳ thị chủng tộc và chính đáng hóa cho hành động man rợ, từ đó nó mặc nhiên tập thể hóa luôn hành động này, nghĩa là cả một xã hội khuyến khích, đồng lõa với tội ác bằng sự bao che, ngụy biện và khỏa lấp cho nhau nhân danh bảo vệ "danh dự tổ quốc dân tộc". Ở một mức cùng cực của man rợ, những đồi bại hoang thú này còn được tha thứ ban phép lành bởi ý niệm tôn giáo tự tôn nữa. Cấp độ tội ác càng bạo ngược hơn khi có niềm tin tôn giáo làm nền. Kẻ sát nhân sẽ tự thánh hóa mình và tàn sát những đối phương đã bị niềm tin và thông tin tuyên truyền ác hóa xuống hàng ngạ quỉ, như người Thiên Chúa giáo nhìn ngừoi Hồi Giáo như những tên ác quỉ (Satan) và ngược lại những ngưởi Hồi giáo nhìn ngừoi Thiên chúa giáo cũng cùng hình ảnh mức độ như vậy. “
Và đã có những "hậm hực than phiền" về nhận định của Tôi từ những người Viêt Nam. Lạ lùng nhất là từ những công dân Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Áo, Thụy Điển, Hà Lan v.v gốc Việt!!!
Dĩ nhiên, khi tuyên bố, lên án, hay ngay cả chỉ là nhận định, chúng ta cũng cần những bằng cớ, dẫn chứng cụ thể.  Trong trường hợp này, Tôi chẳng cần bằng chứng lịch sử gì xa xôi, vì NGAY CHÍNH THÁI ĐỘ PHẢN ĐỐI HẬM HỰC của những người Việt Nam, nhất là những công dân Tây phương gốc Việt ở thế kỷ thứ 21 này, đã minh chứng điển hình và hùng hồn minh xác nhận định của Tôi và của tất cả những học giả sử học và nhân chủng học đã dầy công nghiên cúu tổng hợp và kết luận về tính bất nhân man rợ của chủ nghĩa quốc gia dân tộc và tính trơ trẽn ngụy tín của những con người theo đuổi tôn thờ sử dụng  nó.
Khi loài người chưa bước vào kỷ nguyên ánh sáng và nhân bản với những ý niệm về giá trị tự do chủ quyền con người từ hậu bán thế kỷ thứ 20 đến nay, thì chủ nghĩa Quốc Gia Dân Tộc là một “lý tưởng” ưu thắng khắp mọi nơi, từ Đông qua Tây. Những tên cầm chính đẫm máu con người luôn là những “anh hùng dân tộc”; những tiến chiếm cướp đoạt luôn là những “công lao vĩ đại”, vì “lịch sử quốc gia” là những chữ nghĩa phù thủy hư cấu “thần tích giống nòi”, được nhân bội bởi những “chiến công” giết ngừoi, cưỡng bức thống hợp, cướp đất diệt chủng.
Những “thần tích giống nòi” được nhồi nhét khắc sâu vào trong não trạng của con người hàng tram năm, ngàn năm, từ trong bào thai đến giáo dục gia đình xã hội, khiến người ta ở những thời điểm trước không hề có ý niệm “nhân loại”. Bất cứ ai khác “giống nòi” đều “man di” (Babaric)  “ngoại súc” (Alien). Nhiều khi rất trớ trêu như trường hợp nhóm Á Châu như Tầu, Việt, Hàn , Nhật khi mới tiếp súc với Tây phương vẫn cho họ là “bạch quỉ man di”, để rồi tự nhốt chính mình trong tháp ngà ngu dốt lạc hậu, và hệ quả sau này là không chỉ bị chiếm đóng nô lệ, mà sau khi hết bị chiếm đóng nô lệ, lại tự nguyện miệt mài học hỏi bắt chước Tây phương mà vẫn chưa theo kịp đến nơi đến chốn… Đơn giản bởi vì tất cả đã phải nhìn nhận một sự thật, Tây phương họ thật sự văn minh tiến bộ hơn Á Châu, không hoàn toàn, nhưng xa lắm về rất nhiều mặt.
Nhưng trước khi đi xa và sâu hơn, hãy giải quyết cái hậm hực ngu dốt bán khai của “ngừoi Việt tinh túy”  hôm nay đã.
Những ai, ở tuổi đời từ 60-70 trở lên hẳn còn nhớ sự trâng tráo của Tây phương, đặc biệt là khối Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan trong thời điểm thịnh hành của chủ nghĩa thực dân của họ ở các xứ Nam Mỹ, Châu Phi và Á Châu- nhất là trong sự kiện Đệ Nhị Thế Chiến với sức mạnh của Quốc Xã đã chiếm đóng hầu hết các xứ đế quốc thực dân này.
Họ dài mỏ cao giọng lên án chủ nghĩa Phát xít man rợ. Nào là hủy diệt nhân loại, chà đạp tự do, độc lập, và nhân phẩm con người v.v  Nhưng ngay sau khi họ vừa thoát được ách thống trị của Phát Xít, họ nhẫn tâm trâng tráo tiếp tục đàn áp man rợ những xứ sở bị họ thực dân nhưng vẫn cùng đổ xương máu chung với họ chống Phát Xít, như Viêt Nam, An Gê Ri.
Tôi nhớ đã viết lại đâu đó trong bài viết cách đây đã lâu, một câu chuyện xảy ra cho chính Tôi khi ở đại học UNSW, Úc vào năm 1994. Lúc đó nhân tuần lễ kỷ niệm ngày D-Day, (4-6-1944) vị giáo sư chủ nhiệm chính của cả khóa học nói về ngày kỷ niệm “quân đội đồng minh ”chiến đấu hy sinh vì tự do của thế giới”. Tôi đã giơ tay phản đối, Tôi nói nhận định như vậy là chủ quan cưỡng lý. Tôi và nhiều người của nhiều xứ sở khác, chẳng có ơn nghĩa gì với những người lính Tây phương đó, chính đất nước Việt Nam và người Việt nam đã phải chiến đấu chống lực lượng “đồng minh”, trước và sau 1945, để có độc lập, chứ không phải chiến đấu chống Đức quốc xã để dành độc lập. Vị giáo sư, và cả lớp nghiên cúu sinh, đều vui vẻ đồng thuận rằng “hy sinh vì tự do cho thế giới” là không đúng sự thật. Ông ta còn cười xòa nói với cả lớp “We know, we are very Eurocentric” (Chúng tôi biết chúng tôi rất Âu châu tự thị). Phải công nhận họ rất trí thức: vui vẻ thoái mái thừa nhận cái sai của họ khi được vạch ra đúng đắn, rõ ràng và hợp lý.
Và ngày hôm nay, giữa tình hình biên giới đất biển căng thẳng giữa Viêt Nam và Trung Quốc, hầu như tất cả các nhóm gốc Việt và Việt Nam trong nước đều tận dụng “lịch sử chiếm đóng đô hộ” trải dài hơn ngàn năm của Trung Quốc đối với Việt Nam để  lên án gây lòng căm thù qua “chủ nghĩa quốc gia dân tộc”.
Ấy nhưng khi đề cập đến sự kiện bá quyền bành trướng và diệt chủng của Viêt Nam trong lịch sử đối với Chân Lạp Chiêm Thành trong cái gọi là “cuộc Nam Tiến”, và thái độ chính sách hôm nay với Miên Lào và với ngay công dân Việt gốc Khmer Krom, Chàm .. thì họ viện dẫn rằng đó là “hoàn cảnh lịch sử” theo nhu cầu “tương tranh  sinh tồn” không tránh được!!!
Giả thiết là lập luận này “đúng”. Vậy người Trung Quốc "Hán tộc", họ cũng viện dẫn như vậy, thì lấy cái gì để lên án họ? Mà cho rằng “chính trị thế giới  là mạnh được yếu thua”, và “thủ đoạn ai cao người ấy thắng” thì lại càng chết! Giả sử “Dư luận thế giới” cũng đồng thuận lập luận như mình, khi mình ra rả phân bua phải trái kêu cúu với họ, và họ chỉ thẳng vào mặt Viêt Nam để nói thẳng rằng “chính trị thế giới  là mạnh được yếu thua”, và “thủ đoạn ai cao người ấy thắng”!!! (Mẹ tiên sư, đến Chúa, Phật cũng phải ngao ngán não trạng quốc gia dân tộc này)
Nhưng may mắn rằng kỷ nguyên man rợ trắng trợn ấy cũng đang đi qua, và nhân loại cũng đang tận sức vận đông để  đẩy những lập luận man rợ phi nhân này lùi hẳn vào quá khứ và tan biến trong hố rác của lịch sử nhân loại. Ít nhất ở mặt thể hiện chính qui bang giao và giáo dục phổ thông, người ta KHÔNG CÒN CHẤP NHẬN LÝ LẼ này nữa.
Trên bình diện quốc tế, từ sau đệ nhị thế chiến, nhận thức nhân bản đã đổi thay, với sự ra đời không chỉ của Tuyên Ngôn Nhân Quyền, mà ngay cả một Hội Nghị về Công Đạo và Công Pháp về tội Diệt Chủng cũng được thành lập để ngăn chặn và trừng phạt những quan niệm hành xử đẫm máu man rợ, mà trước đó từng được vinh danh là “anh hùng dân tộc” trong thời kỷ não trạng “quốc gia dân tộc”.
Hội Nghị Qui Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt  Tội Diệt Chủng (The Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide) được đồng thuận tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 9 tháng 12 năm 1948 qua Nghị Quyết LHQ 260. Qui Ước có hiệu lực từ ngày 12 tháng Giêng năm 1951. Qui định pháp chế cho tội phạm này, và các thành viên quốc gia được nhắc nhở phải ngăn chặn cũng như trừng phạt những hành động diệt chủng trong chiến tranh cũng như thời bình.
Những hành động được qui là diệt chủng là những hành động có ý đồ tiêu diệt một phần hay hoàn toàn một quốc gia, một nhóm chủng tộc, thiểu số, hay tôn giáo; bao gồm các hành vi như giết hại các thành viên của họ- cố tình tạo điều kiện sinh sống khó khăn trong tính toán để tiêu diệt từng phần hay toàn bộ một nhóm người; hay áp đặt những biện pháp chủ ý ngăn chặn sinh sản trong nhóm người đó; hoặc cưỡng ép bắt những trẻ em của họ gia nhập vào những nhóm người khác 
(any of the following acts committed with intent to destroy, in whole or in part, a national, ethnical, racial or religious group, as such:
(a) Killing members of the group;
(b) Causing serious bodily or mental harm to members of the group;
(c) Deliberately inflicting on the group conditions of life calculated to bring about its physical destruction in whole or in part;
(d) Imposing measures intended to prevent births within the group;
(e) Forcibly transferring children of the group to another group.
Từ đó cho đến nay, hàng loạt các công trình nghiên cúu được tiến hành để đúc kết tất cả các tội phạm thực dân diệt chủng để hình thành một kho tài liệu làm bài học cho những thế hệ sau của nhân loại này.
Có rất nhiều công trình nghiên cúu. Bạn đọc chỉ cần vào Google, gõ hàng chữ “Genocides in Histroy” sẽ ra hàng lố. Ở đây Tôi chỉ xin nêu ra một đại lược:
Quan điểm chung của các nghiên cúu này là chia những cuộc diệt chủng ra làm hai thời kỳ: Trước và sau năm 1490s. Để xác định nguyên nhân và động cơ của các cuộc tàn sát diệt chủng trong tiến trình lịch sử của loài người, hầu có được giải pháp tháo gỡ tính man rợ này. Và trước tiên là đặt hành động “vì dân tộc tổ quốc này” vào vòng TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LOẠI. Như việc đang gây tranh luận thế giới là sự kiện cận sử người Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát ngừoi Armenians, và người Do Thái đang tàn sát người Palestinians.
Trước  1490, các công trình nghiên cúu đúc kết tài liệu dữ kiện từ các diễn tiến lịch sử tương quan giữa các xứ sở “dân tộc”.
Giai đoạn sau 1490 tương đối đầy đủ sử liệu hơn được nghiên cúu ghi lại khá rõ”
    Từ năm 1490 đến 1914
        Vùng Mỹ Châu (Americas) thủ phạm Mỹ (United States of America), Argentinne. Úc (Australia), France, Philippines -German South-West Africa- Ireland – Cuộc chiến Tam Quốc Anh giáo giết Công Giáo (War of the Three Kingdoms)- Nạn Đói Ái Nhĩ Lan- (Great Irish Famine) Tội Ác Đế Quốc Nga (Russian Empire)- Tội Ác Nhà Thanh (Qing empire)
Từ năm 1915 đến 1950
        Tội ác đến quốc Hồi Giáo Thổ (Ottoman Empire/Turkey)- Vụ Armenian- Assyrian- Hy Lạp Greek- Người thiểu số Dersim Kurds.
        Tội ác đế quốc -Soviet Union- Giết người Cossack (Decossackisation)-Vụ Holodomor- Vụ Thanh Trừng đẫm máu Stalin (Great Purge)- Vụ luu đầy sau Thế Chiến (Post-World War II deportations of North Caucasian peoples)- Vụ luu đầy người Ban Tích (The Mass Deportations in the Baltic States of Lithuanians, Latvians and Estonians)
        Tội ác chủ nghĩa quốc gia dân tộc Đức -Phát Xít Đức Nazi Germany and occupied Europe) Vụ Croatia- Tàn Sát Balan (Massacres of Poles in Volhynia and Eastern Galicia)-Vụ Dominican Republic-
        Vụ tàn sát chia cắt lãnh thổ Ấn Độ (Partition of India in 1947)
        Vụ Trung Cộng tàn sát giết dân cướp nước Tây tạng (Republic of China and Tibet)
    Từ năm 1951 đến 2000
        Vụ đánh đuổi ngừoi Đức sau thế chiến thứ 2 (Expulsion of Germans after World War II)
        Chương trình diệt chủng ngừoi dân bản xứ ở Úc từ năm 1900 đến 1969 (Australia 1900-1969)
        Vụ -Zanzibar- Vụ phe cực hũu do Mỹ hậu thuẫn ở Guatemala 1968-1996- Vụ Pakistan (Bangladesh War of 1971) – Tàn sát diệt chủng ở Phi Châu- Burundi 1972- 1993 - Rwanda 1994  - Bắc Hàn (North Korea)-  Equatorial Guinea- Vụ diệt chủng ở Cambodia – Đông Timo và Nam Dương- (East Timor under Indonesian occupation)- Vụ ngừoi Anh tàn diệt cướp đất người Argentina (Dirty War in Argentina)- Vụ Do Thái và Li Băng (Sabra-Shatila, Lebanon) Vụ Sô Viết A Phú Hãn ( Soviet intervention in Afghanistan) – Vụ Mỹ chiếm đóng Viêt Nam (US invasion of Vietnam) Vụ Ethiopia- Iraqi Kurds – India-Tibet- Brazil-Democratic Republic of Congo-Somalia-Azerbaijan- Sri Lanka v.v
Dĩ nhiên là chưa thể đầy đủ, và chưa hết.  Vì khi chủ nghĩa quốc gia nhà nước chưa chấm dứt, thì hành động chính sách diệt chủng nhân danh Nhà Nước Quốc Gia Dân Tộc vẫn còn như chúng ta đang thấy, và thấy rất rõ ở NÃO TRẠNG ngừoi Viêt Nam, những người ĐANG HẬM HỰC với bài nhận định của Tôi, và trong não trạng người Trung Quốc Hán tộc hôm nay.
Trở lại vấn đề của “Nam Tiến” của “dân tộc hùng tráng chúng ta”, để cho rõ ràng có “chứng sử”, Tôi xin giới thiệu tác phẩm của giáo sư đại học Yale, Mỹ- ông  Ben Kiernan (2009). ). Giáo sư Ben Kiernan, người đã lấy trận chiến tiêu hủy thành Carthage  của Hy lạp trong cuộc chiến Third Punic War vói quân La Mã  (149–146 BC) "Là Cuộc Diêt Chủng Đầu Tiên." Tác phẩm nghiên cúu sử về Diệt Chủng qua chủ nghĩa quốc gia dân tộc- “Máu và Đất” Lịch Sử Diệt Chủng và Triệt Sát của Thế Giới từ Sparta (nhà nước thành phố Sparta cổ Hy Lạp ở thế kỷ 7 trước công nguyên -650 BC) đến Darfur  (Blood and Soil: A World History of Genocide and Extermination from Sparta to Darfur. Yale University Press.
Trong tác phẩm này, điển hình như cuộc “Nam Tiến diệt chủng” ngừoi Chân Lạp Chiêm Thành  của người nước Việt Nam, được ghi nhận khá đầy đủ từ trang 102- đến trang 112 (xin đọc bản Anh ngữ cuối bài)
Như những người “yêu nước yêu nòi” của xứ Viêt Nam được giáo dục và vẫn đang truyền tụng lại cho nhau nghe rằng “cuộc Nam Tiến mở mang bờ cõi , công lao vĩ đại của cha ông chúng ta khởi đầu từ thời Lý, với Lý Thánh Tông (Bình Chiêm 1069) đến triều Nguyễn sau này. Nhưng tác giả Ben Kiernan nghiên cúu có “nhẹ nhàng” và khoa học hơn, nên đặt trọng tâm vào thời điểm khi có chính sách diệt chủng rõ ràng của Việt Nam đối với Chiêm Thành (champa) từ năm 1390 đến 1509- (The Vietnamese Destruction of Champa 1390-1509)- Nghĩa là tiến trình dân tộc có quốc giáo Phật giáo Đại Việt “từ bi, hỉ xả” diệt chủng dân tộc Hồi giáo Chiêm Thành “về cực lạc”- được kéo dài từ cuối thời nhà Trần, Hồ, đến Lê Mạt- Lê Uy Mục-. Nhưng cao điểm là vào thời Lê Thánh Tông, mở đường cho các Chúa Nguyễn sau này dễ dàng vào chỗ “không người” (Terra Nullius) gọi là miền Nam. Tác giả tham khảo, ghi nhận lại những chi tiết đối thoại và “nét đạo đức giả” của vị “thánh đế anh hùng dân tộc” của giống nòi Rồng Teo Thánh Tông (1471) như sau
“Quân Việt bắt sống 50 hoàng tộc Chiêm Thành. Quân Việt bắt trói vua Chiêm Trà Toàn lôi đến quì trước mặt Lê Thánh Tông. Thánh Tông hạch Trà Toàn:
T.Tông: “Ngươi là vua Chiêm phải không?”
T.Toàn: “Phải”
T.Tông: Ngươi biết ta là ai không?
T.Toàn: Nhìn diện mạo ngài, tôi biết ngài là hoàng đế.
 T.Tông: Ngươi có bao nhiêu con.
T.Toàn: Có trên mười đứa.
Thánh Tông tha mạng cho Trà Toàn và cho Toàn giữ lại (2) hai người vợ. Khi quân lính lôi Trà Toàn đi ra, Thánh Tông nói với theo ra lệnh phải đối xử với Trà Toàn đúng theo cương vị cụu Vương của một xứ. Nhưng thật ra Lê Thánh Tông đã ra lệnh trục xuất hoàng tộc Chiêm cùng 30 ngàn tù binh Chiêm về đất bắc Việt. Trà Toàn chết luu đầy bệnh tật trên chiếc tầu đi đày đến đất Việt nam. Đầu của Trà Toàn bị chặt bằm và treo ở mũi  thuyền . Gia đình hoàng tộc Chiêm của Trà Toàn bị nhốt vào một khu bên cạnh cung điện Thăng Long (Hà Nội); họ sống ở đây 30 năm. Một số sau được ra làm gia nhân cho các nhà quan; còn những kẻ khác bị buộc phải đổi tên họ theo Việt nam. Nhưng dân chúng “Phật tử” Việt càng ngày càng chống những người đồng hóa vào Việt xã hội Viêt nam này -trang 110-sách đã dẫn-( sao mà giống bọn quốc xã, và đám thiểu số thiên chúa gíao đầu trọc kỳ thị thời nay ở Đức, Áo, Hà Lan, Úc thế nhỉ!- Cuộc mở mang bò cõi của phật giáo Đại Việt -Lê Thánh Tông năm 1471 đã tàn sát trên 60,000 người-đốt phá toàn bộ thủ đô nước này- nkptc)  
Những kẻ theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc Đại Việt chắc không tránh được mỉm cười “tự hào dân tộc công đức tổ tiên”. Và dĩ nhiên những con dân Chàm-Khmer Krom hôm nay đang còn sống rải rác trên khắp thế giới, vẫn bi phẫn rướm lệ khi học lại bài lịch sử dân tộc thương đau.
Mà thật ra cái gọi là “nụ cười tự hào bờ cõi dân tộc ” của đám “rồng teo” có thấm gì với “nụ cười tự hào bờ cõi dân tộc ” của Hán tộc Trung Quốc! Nó “mở mang bờ cõi nhiều hơn, tàn sát đồng hóa nhiều hơn, và hôm nay, cũng như Việt Nam, chưa thèm ngưng lại- Không những vậy mà “bi phẫn rướm lệ” bị ngoại bang đô hộ cướp bóc của dân “Rồng teo” cũng chẳng kém dân Chàm là bao: Vẫn đang đe dọa tiếp diễn!
Qua những nỗ lực truy tìm và lên án những cuộc thảm sát diệt  chủng từ tư tưởng kỳ thị chủng tộc này, và từ đó, những tên “cụu anh hùng dân tộc” đẫm máu của các xứ sở tiến bộ ở Âu Tây như Mỹ, Anh, Pháp,Úc v.v đã lên bàn mổ của sử gia và các nhà nhân văn học. Những cuộc “Nam Tiến” chiếm đất mở mang bờ cõi, lập quốc, với lý cớ cổ điển sai lầm ngụy biện “đất hoang” (Terra Nullius) như, Anh, Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Pháp, v.v đều không chỉ bị đồng thuận bác bỏ, lên án liên tục trong văn bản tài liệu phim ảnh, sách vở giáo khoa v.v mà đã đưa đến những công nghị xin lỗi của quốc gia với những nhóm dân thiểu số bản xứ còn tồn tại, rồi còn những hiệp ước được ký kết để bồi thường họ chính đáng, điển hình là Nhà Nước Chính Phủ Úc Đại Lợi đã chính thức lập Công Nghị quốc gia xin lỗi người dân bản xứ. Những lập luận này hiện nay chỉ còn tồn tại ở trong não trạng của những nhóm thiểu số tôn giáo cực hũu kỳ thị, và vẫn bị thường xuyên lên án. Nhưng nó lại cực thịnh và được ca ngợi trong sinh hoạt của toàn bộ “dân tộc Viêt hiếu hòa cao quí”. Và mỉa mai thay, nó lại càng được xiển dương gào thét nhiều nhất bởi chính những công dân Tây phương gốc Việt, những kẻ đang là "Công dân văn minh" của những xã hội mà giá trị nhân bản đã thay đổi nâng cao, đang lên án những hành động diệt chủng từ quá khứ đến hiện tại.
Chúng ta tự hào mãn nguyện vì tổ tiên chúng ta tàn bạo ăn cướp tru diệt người khác nhân danh tổ quốc sinh tồn, mạnh được yếu thua-  thì người khác cũng tự hào và lý luận như vậy- Chúng ta đau khổ uất hận căm thù vì bị người khác đàn áp cướp đất giết hại như giữa Việt và người Hoa – thì người khác cũng đau khổ uất hận căm thù chúng ta, như giũa sắc dân Việt đàn áp giết hại diệt chủng dân Chàm- và Khmer Krom hiện nay. Chúng ta thêu dệt hư cấu  bốc phét  hung hăng tự hào “tổ cò dân tộc Viêt thường”, thì người khác cũng gian manh ngang ngược “dân tộc tổ cò Đại Hán”. Còn ngụy biện bài bây cãi cối để lý luận rằng, lịch sử là tương tranh “mạnh được yếu thua” của luật sinh tồn.. Thì chúng ta nên câm miệng lại, đừng mở mồm cao giọng đạo lý nhân quyền  tố cáo ai hết, đừng nhân danh cái gì hết, đừng phân bua phải trái với ai hết- hãy cứ “khôn ngoan” mà lo vũ khí bạo lực để mà vĩ đại tự tồn. Còn nếu để yếu hèn thì bị tiêu diệt  trong thế tương tranh luật rừng, ráng mà chịu. Huề cả làng!
Nhưng nếu khi đã nhận thức rằng bảng Giá Trị Con Người  Xã Hội Tương Quan đã thay đổi, đã vươn lên đến một nền Nhân Bản chung – mà chúng ta dùng nó, đặt nó làm nền tảng để từ nó được hưởng quyền lợi được tôn trọng và bảo vệ trong xã hội nhân loại- để lên án tố cáo người khác vi phạm –như những công dân Tây phương gốc Việt đang thực hiện ở những xã hội đã tiến bộ- và những công dân Viêt đang đấu tranh đòi hỏi tại CHXHCNVN-  thì chính chúng ta, với nột tự trọng tối thiểu, cũng phải biết tôn trọng cái quyền lợi của những Con Người khác, và lên án những hành động sai trái bất kể là ai, dù ngay chính từ tổ tiên của chúng ta cho đến thế hệ hiện tại của chính mình, như những con người nhân bản thật sự như Ben Kiernan, Raphael Lemkin, người luật sư Balan gốc Do Thái đã vận động để có Qui Ước về Diệt Chủng này- những người như họ đang thực hiện và vận động ráo riết không ngừng nghĩ hôm nay.
Bằng không, thì chính những kẻ chi biết nhân danh giá trị cao đẹp nnân bản của nhân loại tiến bộ để hưởng lợi cho riêng mình, để tố cáo đối thủ mà mình không thích, nhưng sau lưng, bên trong lại ca ngợi xiển dương điều đốn mạt bất nhân của mình và của phe mình, thì chẳng qua chỉ là loài dòi bọ ký sinh đê tiện của nền Nhân Bản hôm nay mà thôi.
Khi đã thành loài ký sinh đê tiện của nền Nhân Bản hôm nay, thì không còn gì để nói, chỉ còn sự phỉ nhổ, nếu không tiếc một bãi nước bọt.
NKPTC

Saturday, September 27, 2014

Chủ Tịch Hồ Chí Minh- Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu nưóc? Anh Hùng Dân Tộc?

Chủ Tịch Hồ Chí Minh- Tổng Thống Ngô Đình Diệm yêu nước?
Anh Hùng Dân Tộc?





Tôi vốn dĩ không có thói quen chửi thề, chửi tục tiếng Đan Mạch (ĐM) từ tấm bé, dẫu rằng bạn bè quen biết trong thời niên thiếu đủ hạng ngưòi, du đãng (kho năm Tôn Đản, Cống Bà Xếp v.v), đĩ điếm (khu bàn Cờ)  đủ loại , nhưng mà mỗi khi nghe ai nói “bác Hồ là ngưòi yêu nước thương dân, là anh hùng dân tộc”, đặc biệt là “cụ Diệm là ngưòi “không thương dân nhưng yêu nưóc” và cũng là anh hùng dân tôc”,  thì tôi lại cứ muốn văng  tục với cái lối dùng chữ nghịch hợp (oxymoron) và cưỡng từ đoạt lý hư cấu s kiện như vậy!!! 

Ở trong nước, việc nhận định H Chí Minh là thánh, là thần v.v  đã có  gia giảm xuống  ngựơc chiều theo sự gia tăng hiểu biết của quần chúng gìi trẻ về sự thật “con ngưòi Bác”! Những sự thật được phơi bày không thể chối cãi! Nhưng “bác Hồ” dù sao vẫn cứ là yêu nưóc và là anh hùng dân tộc!!! Một trong những nỗ lực gỡ rối cho nhân vật Hồ Chí Minh công phu nhất và được “kẻ thù chống cộng” hí hửng ôm vào, là nỗ lực của Lữ Phương (Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh, 2002)! Còn ở ngoài đất nưóc Việt Nam, việc nhận định về nhân vật Ngô Đình Diệm lại bắt đầu có chiều hưóng gia tăng, từ tên tay sai độc tài , nay lại đang đưọc tô vẽ để trở thành yêu nưócanh hùng dân tộc! (Ngô Đình Châu, những ngày cuối cùng của đệ nhất Cộng Hoà VN, xuất bản ở Mỹ, 1999” - Nguyễn Hữu Duệ, “Nhớ lại những ngày ỏ bên cạnh tổng thống Ngô Đình Diệm, xuất bản ở Mỹ, 2003) v.v Nói chung nhiều lắm! .

Khổ thật! cận sử Việt Nam, những nhân chứng sống về hai ông “thần giời” này nó rõ mưòi mươi rồi mà những não trạng hàm ơn tối dạ, định kiến âm mưu chính trị phe phái cứ muốn lấy thúng mà úp con voi! Cứ muốn lừa bịp nhân dân Việt Nam!  Mặc dù tôi cũng có trao đổi về “sự ái quốc, ái quần”của hai ông “con giời” này  trong tập sách nhỏ “Núi Sông Có Mấy Nẻo Tình.” Nhưng nay cũng xin vì thế hệ trẻ mà rưòm lời một lần nữa về vấn đề này.

Yêu NưócAnh Hùng Dân Tộc.

Yêu nưóc thì ai cũng có thể yêu nưóc, nói yêu nưóc, và thể hiện lòng yêu nưóc của mình nhiều cách, nhiều trưòng hợp. Nhưng trở thành anh hùng dân tộc thì không phải ai cũng trở thành được. Nó đòi hỏi một bưóc thật dài, cũng có thể rất ngắn, nhưng phải thật lớn từ  chính bản thân, để trở thành “Anh Hùng” trước, nghĩa làm đưọc nhiều chuyện hơn người bình thường, và ảnh hưởng hành trạng phi thường của ngưòi “anh hùng” phải khởi đi từ lòng đại nghĩa vì dân vì nưóc, có giá trị tích cực và phải thật rộng bao quát ảnh huởng lên cả dân tộc! Như thế mới được gọi là anh hùng Dân Tộc (anh hùng của cả dân tộc, chứ không phải anh hùng của một phe nhóm định kiến chính trị, hay của một thành phần nào đó của dân tộc). Tào Tháo (của Tầu), Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Nhạc (của Ta), là những tay “anh hùng kiệt xuất” của thời đại họ- nhưng chắc chắn không phải là anh hùng dân tộc của Tầu, của Ta!  Cho nên một ngưòi yêunưóc, và một ngưòi là anh hùng, và một người trở thành anh hùng dân tộc khác xa nhau lắm! Ông đội Cấn, từng là Việt gian, tay sai thầy đội cho Pháp. Nhưng khi ông gặp được nhà ái quốc Lương Ngọc Quyến lúc ở nhà tù,  do đội Cấn cai quản, chỉ cho con đường sáng vì đại nghĩa dân tộc, ông đội Cấn đã vượt một bưóc thật dài để làm chuyện phi thưòng: vất bỏ quyển lợi an nguy bản thân, gia đình vì lòng yêu nưócyêu dân tộc, nổi lên đánh lại Pháp- sau 3 tháng cầm cự, thế yếu ông tuẫn tiết-[5][1]  Hành trạng “anh hùng” của ông ngắn ngủi nhưng giá trị tích cực lan khắp cả chiều dài, chiều ngang của lịch sử Việt Nam, nhân dân không ai không mến phục (Trừ Hồ ChíMinh và cha con nhà Ngô Đình Diệm.)

Đấy! Chúng ta thấy yêu nước chưa chắc đã là anh hùng dân tộc!  Nhưng anh hùng dân tộc thì chắc chắn là đã yêu nưóc trước rồi! Vì vậy, muốn xét một ngưòi anh hùng nào có phải là anh hùng dân tộc hay không, trưóc tiên hãy cứ xét kẻ “anh hùng” đó có yêu nưócyêu dân không đã! Nếu đã không yêu nưóc yêu dân thì chẳng thể nào trở thành anh hùng dân tộc được nữa!

Vậy yêu nưóc là gì? Làm sao biết một ngưòi yêu nưóc? Bởi vì ai cũng nói yêu nưóc! Và chúng ta thưòng nghe những tranh luận biện minh rằng : “Tôi yêu nưóc cái cách của tôi! Anh, Chị yêu nước theo cách của anh chị, chớ gì mà cứ phê phán nhau!” Có thật sự lòng yêu nước khó biết đến vậy chăng?

Thật ra muốn biết ai yêu nưóc dễ ợt! Nhưng phải hiểu cái chữ "nước" này nó ở đâu ra trước đã!  

Dĩ nhiên, Nước có nghĩa là Đất Nưóc, Quốc Gia, nhỏ thì đi từ trong ý niệm làng nước ra đến ngoài  là cái quốc gia có lãnh thổ và chính quyền, nhưng khi nói yêu nưóc, “ái quốc” thì ý niệm Nưóc hay Quốc không ngưng lại ở chỗ này? Cụ Nguyễn Trãi dạy "lật thuyền mới thấy dân như nước"! Dẫu cụ có ý nói “sức tràn của nưóc” nhưng rõ chính "nước" là dân vậy.
Theo lý thuyết cổ đại của Việt Nam ta, xã tắc, hay quốc gia, không chỉ  là  một thực thể chính trị, nhà nưóc , lãnh thổ, mà nó bao gồm nhân dân, những cái gần cận sát da , sát thịt của “con ngưòi” là cái mái nhà của mỗi ngưòi. Mà khi nói “nhà” thì người Việt ta nói đến mình, nói đến những ngưòi thân yêu của mình sống dưói mái nhà ấy. Chứ không phải cái “nhà” bằng ngói, gạch xây đưọc, phá được hoặc bán được. Cho nên các cụ mình, vợ chồng mới gọi nhau là “mình ơi” và khi đề cập đến vợ hay chồng mình với ai thì nói  “nhà tôi”.  
Chính vì quan niệm nhân chủ như vậy, coi trọng con ngưòi như vậy mà trong Nho Giáo, Mạnh tử cũng nhấn mạnh “Dân vi quí, xã tác thứ chì quân vi khinh.” Dân  quí trọng nhất, sau đó mới đến lãnh thổ, còn nhà nưóc, chế độ chính trị, thì xếp hạng bét! ( Khổ! Nói đến đây cứ muốn văng tục cho cái não trạng cờ vàng cờ đỏ, lằn ranh quốc cộng, chúng nó cứ bo bo coi nhà nưóc chế độ là quan trọng nhất và cứ hàm ơn lải nhải, nào là đã cưu mang, đã bảo bọc, đào tạo v.v và v.v thật là tối dạ, lạc hậu!!!) Mà ngay hiện nay trong quan niệm về dân chủ cũng như thế. Tất cả phải do dân, từ dân, và vì dân! Cho nên mới gọi chính quyền (legitimate authority), còn đã không phải do, từ dân, vì dân thì  không chính đáng (illegitimate authority) chỉ là ngụy quyền! Vì thế chữ Nước,(quốc) là tổng hợp ba thành tố, chính quyền, lãnh thổ, nhân dân,  mà trong đó nhân dân đứng hàng đầu!
“Cho nên yêu nước tức là phải yêu dân trưóc, yêu nưóc và yêu dân không thể tách rời. Cũng như khi nói tôi yêu mái nhà của tôi tức là tôi yêu những ngưòi cùng sống với tôi trong đó, là vợ chồng con cái, hay cha mẹ anh chị em của tôi. Chứ không phải yêu cái mái nhà lá, nhà ngói, tưòng gạch tưòng vôi v.v cái nhà vật thể có thể bỏ đi, bán đi hoặc cho thuê!  Cái giới hạn của ngôn ngữ cụ thể, cũng như cái bao quát của ngôn ngữ trừu tượng, đặc biệt của Việt Nam ở chỗ này. Yêu nước, ái quốc, chữ nước, chữ quốc không còn chỉ mảnh giang sơn, lãnh thổ mà trên hết là người dânYêu nước tự nhiên, tự nó đã là yêu dân. Hay phải nói đúng hơn rằng phải yêu dân rồi mới yêu nước được. Như thế, không thể nói yêu nước nhưng không yêu dân được. Nếu không yêu dân mà nói yêu nước thì chỉ là cái yêu quyền, yêu lợi! Nói thẳng ra là bốc phét!!!

Đất và nước là vật hữu hình, nhưng khi chữ “nước” nằm trong "lòng yêu", nó bao gồm tính trừu tượng tinh thần tổng hợp nhân, thần, và vật: nhân dân, quần chúng đứng hàng đầu. Sau đó mới là thần, thần nhân, thần vật, thần khí, ta gọi là hồn thiêng sông núi, sau cuối mới đến cơ chế chính quyền nhà cửa đất đai, vườn tược của mình. Nó mang theo những hành động cụ thể bắt buộc, vì "lòng yêu nước" không chỉ nói, phát ra từ phổi, mà bằng quả tim, khối óc. Có người nào yêu nước mà không bất bình khi thấy đồng bào mình bị ngoại nhân hành hạ khinh bỉ, đọa đầy. Có ai yêu nước lại có thể dửng dưng trước thảm cảnh khốn cùng của đồng bào mình? Trong Bình Ngô Đại Cáo, cụ Nguyễn Trãi đã diễn tả những cảnh khốn cùng của nhân dân từ lòng bất bình của một người yêu nước. Yêu nước tự nó đã có yêu dân, như dân chủ tự nó đã là đa đảng. Không thể nói yêu nước mà không yêu dân, cũng như không thể nói dân chủ mà độc đảng vậy. Cho nên hễ độc đảng tức là phi dân chủ, không tự do. Và hễ không yêu dân, ức hiếp dân, khinh dân, để dân đói khổ, lạc hậu tức là không yêu nước.”[6][2]  Có ai đánh vợ mắng con, bỏ bê vợ con, ngoại tình, mèo mả gà đồng, hoặc bán vợ đợ con rồi mở miệng nói tôi yêu quí gia đình vợ chồng con cái tôi tôi không?  Đấy chữ Gia trong Quốc Gia là Gia đình, là những ngưòi cùng với mình sống dưói cái mái nhà đó! Tức là “Con Người”. Không hiểu đưọc lý lẽ cơ bản này thì chui đầu vào nhà xí mà chết đi. Sống chật đất làm phí giờ ngưòi khác!!!

Hiểu những ý niệm cơ bản về Quốc Gia như vậy ta mới thấy rất là dễ dàng nhận định một ngưòi có yêu nưóc hay không! Cứ xét xem có yêu dân hay không? Một cá nhân Việt Nam bình thưòng không thể nói yêu nước Việt Nam, khi ôm thằng tây, con đầm mũi lõ mắt xanh thì cưòi toe toét, mà nhìn đồng bào của mình thì khinh khỉnh, soi mói, nghi ngờ! Tên tuổi Việt Nam mặc cảm không dám giữ, ngôn ngữ mẹ đẻ không biết! Ai chê Việt Nam thì hô hố cưòi theo, nói theo. Ai nói động đến nưóc Mỹ, nưóc Pháp, nưóc Úc, nước Đức, nước Nga, nước Tầu, thì xám mặt hung hăng giở trò bất nhân! Mà xét đến lãnh đạo và một chế độ có yêu dân hay không thì lại càng dễ hơn nữa!

Không thể nói yêu nước khi sẵn sàng dâng đất cho người ngoại bang và càng không thể nói yêu nước khi sẵn sàng đưa đàn bà con gái cho ngoại bang làm quà hay  cùng vui chơi hưởng lạc với đồng minh, đồng chí trên thân xác nhân dân mình. Như cả hai chế độ Nam Bắc đều đã phạm. Đặc biệt anh em Diệm đã đưa cả "đoàn phụ nữ liên đới" của vợ Nhu đem làm quà cho khách ngoại quốc! Càng không thể đem xuất khẩu đồng bào mình để lấy vàng lấy ngoại tệ, như đám đầu lãnh CSVN đã tổ chức “vượt biên” hợp pháp! Rồi bây giờ xuất khẩu lao động kiểu đem con bỏ chợ!

Cũng không thể nói yêu nước khi thẳng tay cắt cổ, hành hạ đồng bào mình, đem đồng bào mình, những người  nuôi nấng mình giúp  đỡ mình ra đấu tố- Xúi dục tuổi trẻ chửi cha mắng mẹ chà đạp đạo lý Việt Nam; hoặc cùng ngoại nhân hay để mặc ngoại nhân hành hạ bắn giết đồng bào mình, bỏ bom đồng bào mình rồi vỗ tay ăn mừng chiến công chiến thắng. Yêu nước thì không thể đàn áp nhân dân vì niềm tin tôn giáo của họ được. Yêu nước thì không thể gian trá coi thường niềm tin linh thiêng của dân tộc, bất chấp ngày Tết, gây chiến tranh biến đêm giao thừa linh thiêng văn hiến thành ngày giỗ tang của hàng ngàn đồng bào mình như Mậu Thân được. Yêu nước lại không thể bắt bớ nhân sĩ khi người ta lên tiếng nói phê bình bất bạo động được. Yêu nước thì lại càng không thể ngoảnh mặt nhìn lính chiến ngoại nhân giết hại đồng bào của mình, rồi làm ngơ bưng bít, như Mỹ Lai được. Yêu nước lại càng không thể chấp nhận bom B52 cày nát nhà cửa của đồng bào mình, xác thân con em mình rồi vui mừng chiến thắng hay  uất ức khi nó ngưng oanh tạc vì đã đủ nhu cầu chiến thuật của nó.  Những cái "yêu nước" bệnh hoạn ấy nhân dân bẩn tai không muốn nghe, dơ mắt không muốn nhìn.  Đấy có ai còn muốn hô hào “cụ Diệm” hay “bác Hồ” yêu nưóc nữa không? Có cần chứng minh nữa không? Cái lũ đầu tôm vong bản, tay sai tôi tớ ngoại bang này thì chắc vẫn chưa chịu nhìn nhận lãnh đạo của họ, chế độ của họ là tay sai bán nước đâu!!!  Này muốn bàn rõ bằng cớ thì đây!

Bây giờ xét ông “giời con” Ngô Đình Diệm trước! Xem ông này có yêu dân hay không?


Ngô Đình Diệm.

Ai thích nghe những lòi tán tụng, thương nhớ ông “giời”, hoan hô VNCH, xin cứ tìm đọc những sách như  của Phạm Văn Lưu (Biến Cố Chính Trị Việt Nam Hiện Đại Ngô Đình Diệm Bang Giao Việt Mỹ), Minh Võ (Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê), Nhóm Nghiên Cứu Sử Việt Cận  và Hiện Đại –Santa-Clara, Cali, Mỹ (Việt Nam, cuộc chiến tranh Quốc Gia và Cộng Sản), Ngưyễn Văn Chức (Chính Sử) v.v Hoặc những tên tuổi khác như Phan Phát Huồn, Vũ Đình Hoạt, Vĩnh Phúc v.v hoặc kể cả tên bất lương, vô sỉ Tú Gàn Lữ Giang (Vô sỉ bất lương, nhưng có cờ vàng, lằn ranh mà! Cho nên vẫn có uy tín với một số người!!!)

Ai không thích “cụ Ngô” thích tìm “sự xấu” thì cũng xin tìm đọc những sách như của Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn Mạnh Quang, Hương Bình Lê Hữu Đản, Cửu Long Lê Trọng Văn, Trần Văn Kha, và của ngay ông tu sĩ Cao Văn Luận, và nhất là những bài vở của nhóm Giao Điểm (Mấy ông thần giời này có nhiều sử chứng rất chính xác, nhưng bị cái bệnh tấn công tín ngưỡng người, ca ngợi tín ngưỡng mình, thành ra giảm giá trị và làm xấu hổ cả Thích Ca!!!  Bởi vì ai đọc kinh Phật cũng biết trong kinh Kim Cương, Phật đã giải thích và cảnh cáo mọi người qua sự giải đáp với Văn Thù Bồ Tát rằng phải coi chừng loại ma vương Ba Tuần, nó hiện thân qua sáu ngả khác nhau, mà ngả thứ  ba (3)  và thứ sáu (6) là thưòng thấy trong giói chữ nghĩa khoa bảng!!! ( Ai không biết sáu loại này, xin tìm kinh Kim Cương mà đọc!!!)

Ở đây, tôi xin bỏ qua những liên hệ về cá nhân và xuất thân của ông Diệm như việc bố ông là Ngô Đình Khả leo lên địa vị nhờ làm thông ngôn cho Pháp và phục vụ thực dân cùng Nguyễn Thân đào mả cụ Phan Đình Phùng. Tôi cũng không bàn đến việc ông nhờ “ấm cha và ấm cha đỡ đầu là Nguyễn Hữu Bài” cũng như chính bản thân ông hết lòng tận tụy với Pháp trong buổi ban đầu tảo trừ, tra tấn phiến loạn “kháng chiến và cộng sản” để leo lên bậc thang “thượng thư” trước khi ngả theo Mỹ, hoặc chuyện đòi tư của ông bỏ bê  và định thủ tiêu cả vợ con  mà ông Hương Bình Lê Hữu Đản hay nhắc đến, hoặc vụ “tham lam” cái nghiên Tức Mặc Hầu mà cụ Vương Hồng Sển cũng nhắc đến. Tôi chỉ xét việc thương dânyêu nước trong chín (9) năm cầm quyền.

Để sòng phẳng, phải nói, đối với những người di cư, đặc biệt là những người công giáo trong dịp theo “Đức Mẹ vào Nam”, họ nhớ ơn ông đã ra tay “tế độ”, cũng là việc đúng và thưòng tình! Nhưng cũng phải nói thêm chẳng phải vì ông thương dân lành lầm than bị Hồ Chí Minh đàn áp, mà ông và thế lực ngoại bang muốn lập cơ sở hậu thuẫn và củng cố quyền lực trước viễn ảnh có thể phải đối đầu với cuộc tổng tuyển cử năm 1956. Hơn nữa người trong Nam không hoàn toàn ủng hộ ông “vua dân chủ” của Lăng Đèo mỹ này. Như vậy với ông hậu thuẫn mạnh nhất vẫn là lực lưọng công giáo.  Và  vì thế ông đặc biệt “thương dân xóm đạo” rồi khinh thưòng nghi kỵ người Lương mà ngay linh mục Cao Văn Luận (Bên Giòng Lịch Sử) cũng không thể đồng ý- vì nó quá chướng và làm hại quốc gia. Ai đã đọc Đặng Chí Bình (Thép Đen) ắt sẽ thấy lòng tin và quyền lực của các linh mục xóm đạo đến mức nào trong thời ông Ngô Đình Diệm. Do đó những mâu thuẫn trong xã hội và sự việc đàn áp phật giáo xảy ra một phần lớn là từ sự “yêu dân” này. Ông bất chấp sụ kiện rằng 80% dân số Việt nam là phật tử, hiểu theo nghĩa thoáng,  ông đã chỉ vì quyền lực và lòng tư riêng với niềm tin tôn giáo của mình và gia đình gây nên cảnh nồi da xáo thịt ngay trong nửa phần đất còn lại, mà lẽ ra, nếu thật sự vì đại nghĩa dân tộc, và có tài chính trị, ông đã phải cân bằng và hóa giải trong nỗ lực thật sự thực thi nền dân chủ để đối đầu với lực độc tài đảng trị tại miền Bắc. Ông không những thiên vị, coi thưòng, nghi kỵ người không công giáo mà còn vì quyền lực của mình và gia đình để anh em thao túng (Ngô Đình Thục, Vợ chồng Nhu, Cẩn) mà còn đàn áp bắt bớ thủ tiêu đối lập như Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Hồ Hữu Tưòng, Nguyễn Tường Tam v.v khiến cho sự đoàn kết quốc gia và nền tảng dân chủ không nẩy nở được, nhân tài không tham gia chính sự đuợc đúng mức.

Cơ hội tốt đẹp để có một nền dân chủ thật sự, tổng hợp đưọc sức lực miền Nam còn lại để chống với miền Bắc và giải phóng miền Bắc, sau những nỗ lực phá hoại của Pháp trước khi ra đi, đã bị não trạng quân quyền phong kiến của ông và gia đình ông bóp chết. Khi người Mỹ không thể dùng ông đưọc nữa vì những mâu thuẫn do chính não trạng và hành xử phong kiến của ông với  những người chung quanh, Ông đã không nỗ lực vì quyền lợi quốc gia để hòa giải và thực thi dân chủ, quay qua quay lại, ông không còn hậu thuẫn, ngay cả một số người công giáo cũng không ủng hộ ông nữa, ông cũng không nghĩ đến giải pháp dân chủ là bầu cử lại để dân miền Nam thể hiện quyền dân chủ xét đoán việc làm của ông, và chọn chính quyền mới, ông lại quay ra thỏa hiệp với Hồ Chí Minh, một học trò tinh túy của chủ nghĩa đệ tam (ông Phan Nhật Nam nhận xét điều này rất chi tiết chuẩn xác (1973), lúc nào cũng sẵn sàng bán đứng nhân dân và đất nước. Theo thiển ý của tôi, là ông biết thừa Hồ Chí Minh là ai rồi, vì hai người có gặp nhau, đối đáp khi ông bị Hồ Chí Minh bắt rồi sau đó thả! Ông chỉ lầm mầu , làm  mình làm mẩy với Mỹ, với những người yêu nước khác, ra cái điều không theo tôi, ủng hộ tôi, tôi chơi với VC cho mà xem!!! Chứ không phải vì nền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền của đất nước, không muốn làm tay sai Mỹ, hay tránh cho nhân dân cảnh chinh chiến tương tàn! Vì nếu thật như vậy và được như vậy, thì quả nhiên Ngô Đình Diệm và Hồ Chí Minh quả thật là thương dân yêu nước, có tự trọng dân tộc, và thật sự là anh hùng dân tộc vĩ đại!!! 

Nhưng cay đắng lắm đồng bào ơi! Ông Diệm (và HCMinh) chỉ nghĩ đến mình, đảng của mình, coi thường và không trọng ý kiến, nguyện vọng người dân! Tự coi mình là chủ của quốc gia, mà quốc gia chỉ là tài sản của riêng mình, gia đình mình, đảng mình theo kiểu phong kiến. Hậu quả không thể tránh đưọc là  cuộc đảo chính thoán quyền do Mỹ cầm đầu, và miền Nam lại rơi vào tình trạng ngụy quyền quân phiệt làm tay sai cho Mỹ đến khi CSVN mạnh hơn, thống nhất đất nước vào năm 1975.

Như vậy ông yêu nước ở chỗ nào?  Ông làm sao yêu nước được khi lòng yêu dân không có? Ông Trần Trung Dung có kể lại câu chuyện ông đi kinh lý, bắt các học sinh làm dàn chào chờ đợi ông trong nắng nôi ,có nhiều em đã ngất xỉu. Thế mà khi ông Trần Trung Dung “rụt rè, khúm núm” báo cho ông biết để “tha” cho các em nhỏ, ông đã ngắn gọn trả lời ý là làm tổng thống cũng như làm vua thôi! Dân phải phục dịch có chết cũng đã sao? Đấy, một con người mà khệnh khạng như ông vua như vậy, coi thưòng các định chế dân chủ, xem mạng người dân trẻ thơ không ra gì như vậy, mà bảo rằng có dân chủ, có yêu nước, có thương dân thì quả thật chữ nghĩa tăm tối hay cái óc phe phái hàm ơn nó đồi bại đến cùng cực???!!! Tôi xin tạm ngừng ở đây để quí độc giả yêu ghét thẩm định, để xin bàn qua “bác Hồ” yêu nước, thương dânanh hùng dân tộc!



Hồ Chí Minh.

Cũng sòng phẳng như bàn về ông Diệm, tôi không bàn về việc riêng xuất xứ của ông Hồ như Trần Quốc Vưọng và nhiều người đã bàn, chẳng hạn như việc ông “ôm cháu gái” Nông Thị Xuân, ăn ở đã có con, rồi vì “phương diện quốc gia”, để cho thuốc cấp cưỡng hiếp đập đầu giết chết một cách tàn bạo, nghiệt ác; đến cả con ruột (Nguyễn Tất Trung, con của bà Nông thị Xuân và Ông) cũng không nhận nuôi phải lưu lạc! Hay nghi án bán đứng cụ Phan Bội Châu cho Pháp, hoặc việc tự viết sách khen mình với cái tên Trần Dân Tiên v.v Tôi chỉ bàn đến hành trạng có liên quan trực tiếp đến việc điều hành trị nước cai dân của ông.

Khởi đầu phải nới đến cái “anh nho nhỏ hốc hác” yêu nước, len lỏi xấn vào buổi hội nghị Vẹc Xây  1919 để đưa kiến nghị..

1-      Thả tự do tất các tội phạm chính trị bản xứ;
2-      Thay đổi hệ thống công lý để bảo đảm quyền tư pháp ngang bằng cho người Viẹt Nam  như người Âu Châu, và sự đàn áp của các Tòa án mà thật ra chỉ là công cụ khủng bố và áp búc chống lại nhân dân Việt Nam lương thiện;
3-      Đưọc Tự Do Báo Chí và Tự Do Phát Biểu Ý Kiến;
4-      Được Tự Do Hội Họp và Lập Hội;
5-      Tự Do Vãng Lai, Cư Trú, và Du Lịch;
6-      Tự Do giáo dục học hỏi, phát triển kỹ nghệ, thương mại, nghề nghiệp;
7-      Thay thế chế độ cai trị bằng sắc lệnh bằng chế độ pháp trị;
8-      Được (Tự Do)Tuyển cử đại biểu thưòng trực của nhân dân Viêt Nam ở Quốc Hội Pháp để có tiếng nói đại diện và bảo vệ quyền lợi của người Việt Nam.

….. Thay mặt nhóm người Việt Yêu Nước.
Ký Tên Nguyễn Ái Quấc (Không phải Quốc!)[7][1][1]

Cứ xét cho công bằng theo tình thần kiến nghị thì quả thật “anh chàng” này yêu nước, yêu dân!!! Đòi hỏi chính đáng cho đồng bào anh ngay trên “đất địch”, đất tương đối có tự do phát biểu- Thế nhưng….26 năm sau, khi anh trở thành “Bác” ở tuổi ngoài 50, nắm quyền, có cơ hội đại đoàn kết toàn dân Việt nam chống Pháp, Ông đã trở thành tay sai ngoại bang, giết hại đồng bào chiến hữu để độc quyền áp đặt chủ nghĩa cộng sản. Cái cơ hội tốt đẹp đại đoàn kết toàn dân, ông đứng đầu và  chính ông phá vỡ. Cũng như ông Diệm ép người ta theo mình, đứng dưói cờ, dưói trưóng của mình không đưọc đâm thù vặt giết hại thủ tiêu! Ngay tại thời điểm này ông không coi tiền đồ độc lập tự do dân chủ là chủ đích, sinh mạng nhân dân là quan trọng, mà chỉ là làm sao nắm quyền để thực hiện chủ nghĩa cộng sản, mà chính miệng ông nói ra rằng ông chẳng có tư tưỏng gì, những cái hay đẹp chân lý, LêNin và Mao đã có sẵn cho ông!:

"Có đồng chí còn nói: hay là ta viết tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng Hồ Chí Minh có phải hay không! Câu nói của tôi, làm cho mắt ông già (HCM) rạng lên theo lời đáp cấp kỳ:

-Không, tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lênin. Tôi chỉ có phương pháp để giải quyết thỏa đáng từng vấn đề của ta. Như tôi thường nói: lạt mềm buộc chặt đó là phương pháp cột cái gì đó của tôi.(Ông cột không được "cái gì đó", nên mới gieo hoạ cho Nông Thị Xuân. Người viết , NK chú thích). Mà cho đến phương pháp như vậy thì cũng có sự chỉ biểu của phương pháp biện chứng. Chớ còn tư tưởng là quan niệm về vũ trụ về thế giới và về xã hội con người, thì tôi chỉ là học trò của Mác, Ang-ghen, Lênin, chớ làm gì tôi có tư tưởng ngoài triết học Mác.
(Vấn đề này đang có tính thời sự. May sao đồng chí Việt kiều Thái Lan, Lê Quang Lơ hãy còn đó mà làm chứng cho tôi). (Chú thích của Ông bảy Trấn).... (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc Hội, Chưong -Gặp Bác Hồ).

Khi lên tột đỉnh quyền uy, ông vẽ ra lằn ranh vô sản, theo lời cố vấn của Tầu, đem đồng bào nhân dân ra đấu tố, đấu tranh giai cấp, tàn sát kể cả những người từng theo ông, giúp ông, nuôi nấng che chở đám cách mạng của ông, chỉ vì người ta yêu nước, yêu độc lập dân chủ và tự do. Cái khốn nạn hơn là Ông đã hợp pháp hoá hành động bạo ngưọc tàn hại văn hóa đạo lý Việt Nam khi cổ võ cho những đưá con, cháu, vuốt ngược tóc chửi mắng tố cáo anh chị, cha mẹ, ông bà của mình! Thật là một thảm họa đẫm máu  chưa từng thấy của cả dân tộc Việt Nam trong suốt hơn 4 ngàn năm hiện hữu!
Đã thế ông nuốt luôn cái tám điểm (8) ông nhân danh dân tộc Việt Nam đòi hởi từ tay thực dân Pháp. Ông tự biến Ông thành một vị vua, cha già dân tộc, đảng  CSVN của ông, thành một hoàng tộc phong kiến, tập quyền! Cứ nghe sự hiểu biết và lý giải của ông về dânchủ với trai trẻ thanh niên thời bấy giờ do ông Bẩy Trấn thuật lại thì rõ ràng hết cách bào chữa:

"Bác không đi vào những vấn đề nêu trên bích báo. Sa chân vào đó thì ra sao được. Nhưng cũng không khỏi nói tới bích báo hỏi Dân chủ tập trung là gì?.
Có lẽ là vì bích báo hỏi nên Bác trả lời với lời văn bích báo:
-Như các cô, các chú có đồ đạc, tài sản gì đó ,thì các chú các cô là chủ, đó là dân chủ. Các chú các cô không biết giữ, tôi giữ dùm cho. Tôi tập trung bỏ vào rương. Tôi khóa lại và bỏ chìa khóa vào túi tôi đây. Đó là tập trung!
Trong hội trường phía học viên, lặng trang. Phía công nhân viên, cười ì xèo. Bác ra về. Tôi lốc thốc theo đưa. Bác hỏi:
-Tôi nói như vậy có được không?
-Dạ thưa, Bác nói thì thôi! 
Tất nhiên là bích báo cứ vô tình tường thuật. Tôi xin không kể lại. Vì là: Bác đã nói thì thôi!.
(Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc Hội, Chưong -Gặp Bác Hồ).

Cá nhân ông Hồ, ông tiến hành việc chống Pháp như là một bổn phận, một bưóc đầu của lý tưỏng vô sản quốc tế theo bài bản ba giòng thác cách mạng, mà giòng thác “giải phóng dân tộc” chỉ là chặng đường đầu tiên theo biểu quyết của khuynh hưóng đệ tam quốc tế. Chính ông Hồ đã xác nhận điều này và đã đưọc “lịch sử Đảng” ghi nhận “ .. Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ..”[8][2]

Ngoài những việc rõ ràng này ra, những hành xử bán nước như  ký với Trung Cộng vào năm 1957, và cuộc tấn công gây máu đổ cho dân tộc vào đêm giao thừa linh thiêng văn hiến tết Mậu thân, tôi không kể ở đây.. Vì có phần thao túng lớn của Lê Duẫn, Lê Đức Thọ. Nhưng với cương vị chủ tịch Đảng, người uy tín nhất nước “Bắc” thì “Bác” không thể nói là vô can.
Kết luân lại, khi nói về hai ông “thần gìi” này, khó có thể chối bỏ đưọc là họ kiệt xuất trong thủ đoạn chính trị, bản lãnh lì lợm, đáng là anh hùng, vì hai ông hơn hẳn  thiên hạ và những người đồng thời. Cũng như Nguyễn Nhạc và Nguyễn Hữu Chỉnh vậy. Nhưng bảo là yêu nước thương dân, vì đại nghĩa dân tộc, tạo công đức cho dân tộc,  và là anh hùng dân tộc thì rõ là hàm hồ lạm dụng chữ nghĩa, cưỡng lý đoạt từ!

Yêu nước nhưng không yêu dân chỉ là ngụy biện, cái yêu đất nước ấy là yêu vật, vô lương, bất nhân. Coi đất nước là một sở hữu, để tranh giành, cái yêu ấy nó giống như yêu tiền của những tên tư bản trọc phú, những tên mị dân độc tài yêu quyền lực. Như những đấng "anh hùngyêu giang sơn trong cuộc "đuổi hươu", tranh giành quyền lực như Trịnh Nguyễn. Thế thôi. Cái lối chơi chữ "nghịch hợp" Tây Phương không nằm được trong ngôn ngữ tinh thần súc tích của tiếng Việt được. Ai cũng có thể nói yêu nước, nhưng muốn biết cứ nhìn vào đời sống nhân dân, sự phát triển của đất nước thì rõ không cần tranh cãi. Hiện trạng Việt Nam từ nửa thế kỷ nay cho đến bây giờ không chứng nhận bất cứ bọn cầm quyền nào là yêu nước cả.

Cái lý luận yêu nước không cần yêu dân nó có tự lúc nào vậy? Một kẻ bắt dân yêu mình, một đứa bịp dân, bắt dân yêu mình! Đều được ca ngợi yêu nước, anh hùng dân tộc. chữ nghĩa nó tối tăm, khốn nạn hay  đầu óc những kẻ cầm bút nhơ bẩn, nô lệ!

Đưọc như  Đức Quang Trung hay như cụ Phan Đình Phùng khi phải đối diện với sự chọn lựa giữa quyền lợi bản thân, êm ấm gia đình, và đại nghĩa đất nước dân tộc, khi kẻ thù và tay sai Việt Gian đào mả giòng họ cha mẹ để buộc cụ đầu hàng, cụ đã cương quyết trả lời:

"Ta chỉ có một ngôi mả rất to phải giữ, đó là nước Việt Nam, người bà con rất to phải cứu, đó là mấy mươi triệu đồng bào. Về sửa sang phần mộ của mình, ai sẽ lo ngôi mộ cả nước? Về để cứu lấy bà con, ai sẽ lo cho bao nhiêu triệu người anh em khác? Ta thề chỉ có một cái chết mà thôi." (Phan Đình Phùng.)

Ai dám đặt câu hỏi, hay chối bỏ cụ Phan Đình Phùng  yêu nước thưong dân, vì đại nghĩa dân tộc; và ai dám không chấp nhận cụ là Anh hùng dân tộc  của giòng Lạc Hồng bất khuất này? ( Có lẽ có Nguyễn Gia Kiểng chăng???)


[5][1] Lương Ngọc Quyến, còn có tên là Lương Lập Nham. Người làng Nhị Khê, (Hà Đông). Lương Ngọc  Quyến là con của nhà chí sĩ Lương Văn Can, người đã xướng ra phong trào Tân Học (cuối 1906).
Lương Ngọc Quyến cầm đầu cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên năm 1917 để chống thực dân Pháp. Năm 1917, Lương Ngọc Quyến đã bị Pháp nhờ nhà cầm quyền Anh bắt ở Hương Cảng, đem về giam tại ngục Thái Nguyên. Nơi đây ông bị bọn tay sai của Pháp tra khảo hết sức tàn tệ. Nhưng gương hy sinh và lòng chân thành vì dân tộc đất nước của ông đã cảm hóa được một số lính Việt tay sai cho Pháp, trong đó có một viên đội ở tỉnh này là Trịnh Văn Cấn.

Đêm 30 rạng ngày 31 tháng 8 năm 1917, gồm tất cả hơn 300 người lính do Trịnh Văn Cấn cầm đầu và Lương Ngọc Quyến nổi lên đánh Pháp. Lúc đầu nghĩa quân tuy được một vài thắng lợi và làm chủ được tình thế như cướp kho súng,  hạ sát viên Giám Binh, chiếm hết các công sở, phá nhà lao thả hết tù nhân và tấn công vào đồn lính Lê Dương.  Nhưng sau khi viện binh của Pháp từ Hà Nội kéo vào quá đông, sau 7 ngày giao chiến, nghĩa quân bị đánh dồn về Tam Đảo. Lương Ngọc Quyến vì bị thương, sợ chậm bước thoát của các nghĩa quân nên ông tự vẫn trước khi rút quân khỏi Thái Nguyên.  Quân Pháp truy nã gắt gao. Đội Cấn biết thế giữ không nổi, liền cho nghĩa quân mở đường máu, chọc thủng vòng vây sang Vĩnh Yên và Phúc Yên. Nơi đây nghĩa quân của Đội Cấn chống giữ được 3 tháng. Quân Pháp tấn công mãnh liệt khắp nơi. Đội Cấn hiên ngang chiến đấu đến phút cuối cùng và để giữ tròn danh dự của một vị chỉ huy, ông đã dùng súng tự tử.
[6][2] Nguyên Khả, Núi sông có mấy nẻo tình” 2000.